- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 2…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T; s a Bản án hình sự sơ th m số 06/2019/HS-ST ngày 29 tháng 3 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương như sau:
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố t ng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 143/2019/HS-PT Ngày: 27-8-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa:Ông Trần Văn Luông;
- Các Thẩm phán:
Ông Lê Quân Vương;
Bà Nguyễn Thị Sang.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Lữ Thị Lệ Huyền - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 22 và ngày 27 tháng 8 năm 2019, tại tr s Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương m phiên toà t ph c th m công khai v án hình sự th lý số 93/2019/TLPT-HS ngày 16 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo Nguyễn Văn T. Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T đối với Bản án hình sự sơ th m số 06/2019/HS-ST ngày 29 tháng 3 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm 1965 tại tỉnh Bến Tre; thường tr : Ấp 00, ã T, huyện P, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Ch a; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C (chết năm 2014) và bà Nguyễn Thị A (chết năm 1990); bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị K, sinh năm 1972; tiền án: Không, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T: Ông Nguyễn Văn N là Luật sư thuộc Văn phòng Luật sư P thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bình Dương. Địa chỉ: Khu phố 00, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương (có mặt).
Trong v án còn có 01 bị hại và 01 người có quyền lợi, nghĩa v liên quan nhưng do không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 ph t, ngày 19/8/2018, Nguyễn Văn T (cư tr
ã T) điều khiển e mô tô biển số 61F1-304.49 lưu thông trên đường ĐH 506 theo hướng từ ã Vĩnh Hòa đến ã P. Khi gần đến ngã 3 giao nhau với đường Bàu Nổ, thuộc ấp L, xã V, huyện P, T điều khiển e mô tô chuyển hướng sang làn đường bên trái để rẽ vào đường Bàu Nổ nhưng không nhường đường cho anh Nguyễn Văn T1 (cư tr
ã P) đang điều khiển e mô tô biển số 61F1-175.51 lưu thông trên đường ĐH 506 theo hướng từ ã P đến ã Vĩnh Hòa nên đầu e phía bên phải e mô tô biển số 61F1-175.51 va chạm vào đầu e phía bên phải e mô tô biển số 61F1-304.49. Tai nạn ảy ra làm Nguyễn Văn T1 (cư tr
ã P) chết.
Ngày 10/01/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã tiến hành thực nghiệm điều tra ác định điểm va chạm trên đường giữa e mô tô biển số 61F1-304.49 va chạm vào đầu e mô tô biển số 61F1-175.51 cách tr điện số 62 là 20,4m, cách lề đường bên phải là 4,8m.
Kết luận giám định pháp y số 656/GĐPY ngày 22/8/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Nguyên nhân chết của nạn nhân Nguyễn Văn T1 là do chấn thương sọ não (vỡ l n ương hộp sọ, dập não, uất huyết não); Bản kết luận định giá tài sản ngày 14/9/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố t ng hình sự kết luận giá trị thiệt hại của e mô tô biển số 61F1-175.51 là 3.730.000 đồng.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P thu giữ: 01 e mô tô biển số 61F1-175.51, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã trả lại chiếc e trên cho chủ s hữu hợp pháp là ông Nguyễn Văn H; 01 e mô tô biển số 61F1-304.49, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã trả lại chiếc e trên cho chủ s hữu hợp pháp là bị cáo T.
Tại Bản án hình sự sơ th m số 06/2019/HS-ST ngày 29 tháng 3 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
Áp d ng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được s a đổi bổ sung 2017;
X phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm tù.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ th m còn tuyên về án phí, về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 01/4/2019, bị cáo Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo in hư ng án treo để có thời gian chữa bệnh.
Quan điểm của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương trong phần tranh luận: Bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đưa v án ra t ph c th m là đ ng quy định. Bị cáo kháng cáo in được hư ng án treo, cung cấp bổ sung tài liệu chứng minh sức khỏe k m, mọi sinh hoạt ph thuộc người nhà. Tại phiên tòa vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
X t thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bản thân bị cáo có bệnh, không có khả năng tự chăm sóc bản thân; bị cáo đủ điều kiện để áp d ng hình phạt án treo. Đề nghị Hội đồng t áp d ng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357, Bộ luật Tố t ng Hình sự năm 2015, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, s a bản án sơ th m theo hướng giữ nguyên mức hình phạt, cho bị cáo được hư ng án treo, ấn định thời gian th thách là 02 năm.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T trình bày: Bị cáo là người ít học, điều kiện kinh tế gia đình khó khăn; bản thân đang mắc nhiều căn bệnh nghiêm trọng. Bị cáo phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Th m phán Tòa án nhân dân Tối cao, bị cáo đủ điều kiện để hư ng án treo, đề nghị Hội đồng t
em t chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo Nguyễn Văn T mong Hội đồng t
em t in giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hư ng án treo để có thời gian chữa bệnh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa, Hội đồng t nhận định như sau:
Tại phiên tòa ph c th m, bị cáo Nguyễn Văn T1 đã khai nhận hành vi phạm tội như sau: Khoảng 18 giờ 30 ph t, ngày 19/8/2018, Nguyễn Văn T (cư tr
ã T) điều khiển e mô tô biển số 61F1-304.49 lưu thông trên đường ĐH 506 theo hướng từ ã Vĩnh Hòa đến ã P. Khi gần đến ngã 3 giao nhau với đường Bàu Nổ, thuộc ấp Lễ Trang, ã V, huyện P, T điều khiển e mô tô chuyển hướng sang làn đường bên trái để rẽ vào đường Bàu Nổ nhưng không nhường đường cho anh Nguyễn Văn T1 (cư tr
ã P) đang điều khiển e mô tô biển số 61F1-175.51 lưu thông trên đường ĐH 506 theo hướng từ ã P đến ã Vĩnh Hòa nên đầu e phía bên phải e mô tô biển số 61F1-175.51 va chạm vào đầu e phía bên phải e mô tô biển số 61F1-304.49. Tai nạn ảy ra làm Nguyễn Văn T1 (cư tr
ã P) chết. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T điều khiển e mô tô không tuân thủ Luật Giao thông đường bộ (chuyển hướng e sang phần đường bên trái không đảm bảo an toàn đã vi phạm khoản 2 Điều 15 của Luật Giao thông đường bộ) gây tai nạn giao thông làm chết 01 người và hư hỏng tài sản. Vì vậy, Tòa án cấp sơ th m t bị cáo T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được s a đổi bổ sung 2017 là có căn cứ, đ ng người, đ ng tội và đ ng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T:
Tại phiên tòa ph c th m bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội được nêu trong nội dung bản án sơ th m. Trước khi m phiên tòa, bị cáo giao nộp tài liệu chứng minh bản thân có sức khỏe không tốt, đang điều trị nhiều căn bệnh, mọi sinh hoạt đều ph thuộc vào người thân; đại diện hợp pháp của bị hại tiếp t c g i đơn “bãi nại” in cho bị cáo được hư ng án treo. X t thấy, hình phạt bản án sơ th m đã tuyên với bị cáo là tương ứng với tính chất hành vi, mức độ phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội với nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, s a đổi bổ sung năm 2017; bị cáo có nhân thân tốt, bị cáo đang mắc nhiều chứng bệnh, sinh hoạt ph thuộc vào người thân, t thấy không cần bắt bị cáo thi hành hình phạt tù, cho bị cáo hư ng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự cũng đủ phát huy tác d ng giáo d c, cải tạo đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho ã hội. Vì vậy, Hội đồng t thấy có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, s a bản án sơ th m theo hướng giữ nguyên mức hình phạt tù, cho bị cáo được hư ng án treo.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương, ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo phù hợp quan điểm của Hội đồng t nên được chấp nhận.
Các phần khác của quyết định bản án sơ th m không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Án phí hình sự ph c th m: Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T được chấp nhận nên bị cáo không phải nộp án phí hình sự ph c th m.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố t ng hình sự;
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T; s a Bản án hình sự sơ th m số 06/2019/HS-ST ngày 29 tháng 3 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Dương như sau:
Áp d ng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được s a đổi bổ sung 2017.
X phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm tù nhưng cho hư ng án treo, thời gian th thách là 02 năm, tính từ ngày tuyên án về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Giao bị cáo Nguyễn Văn T về Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, tỉnh Bình Dương để giám sát giáo d c trong thời gian th thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư tr thì thực hiện theo quy định tại Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian th thách, người được hư ng án treo cố ý vi phạm nghĩa v 02 lần tr lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hư ng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hư ng án treo.
2. Về án phí hình sự ph c th m: Bị cáo Nguyễn Văn T không phải nộp.
3. Các phần khác của quyết định án sơ th m không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án ph c th m có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Dương; 1 - TAND huyện P; 2 - VKSND huyện P; 1 - Chi c c THADS huyện P; 1 - Phòng PV06 - Công an tỉnh BD; 1 - Công an huyện P; 1 - S Tư pháp tỉnh Bình Dương; 1 1 - Bị cáo. - UBND xã T, huyện P; - Lưu: Tổ HCTP, HSVA, Tòa HS. 3 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Văn Luông |