vanban.org

Bản án 143/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 09/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vì Văn X phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Vì Văn X 16 (mƣời sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/6/2018. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu tịch hủy: 01 (một) phong bì thƣ màu trắng do bƣu điện Việt Nam ph… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vì Văn X phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vì Văn X phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số:143/2018/HSST
Ngày 09-10-2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đèo Văn Quỳnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Quàng Văn Tiện, ông Nguyễn Văn Nghĩa.

Thƣ ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Nhung – Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà: Ông Trần Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số:141/2018/HSST ngày 24 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số:145/2018/HSST-QĐ ngày 24 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vì Văn X, sinh 1967. Nơi sinh SM, Sơn La. Nơi ở và ĐKHKTT: Bản PK, xã NM, huyện SM, tỉnh Sơn La. Nghề nghiệp: Trồng trọt. Trình độ văn hoá: 6/10; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Đảng phái: không. Con ông: Vì Văn C (đã chết); con bà Vì Thị H (đã chết), có vợ là Vì Thị Q và 05 con. Con lớn nhất sinh năm 1991, con nhỏ sinh năm 2015. Anh chị em ruột: Có 12 ngƣời bị cáo là con thứ 5.

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Năm 2007 đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm giáo dục lao động tỉnh Sơn La với thời hạn 12 tháng.

Bị bắt tạm giam từ ngày 12/6/2018 đến nay có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Hồi 19 giờ 30 phút ngày 23/5/2018 Tổ công tác Công an huyện Sông Mã phối hợp với Ban công an xã Nậm Mằn đến nhà vận động Vì Văn X đi hỗ trợ cắt cơn cai nghiện, X đã tự giao nộp 01 gói nilon màu hồng bên trong có chứa chất bột màu trắng, theo X khai là Heroine. Công an đã lập biên bản phạm tội quả tang đồng thời niêm phong toàn bộ vật chứng và gửi giám định.

Tại kết luận giám định số: 659 ngày 31 tháng 5 năm 2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luật” Mẫu gửi giám định ký hiệu X1 là chất ma túy, loại chất Heroine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,1 gam”.

Tại cơ quan điều tra bị cáo khai nhận: Do nghiện chất ma túy, khoảng 10 giờ ngày 23/5/2018 X đi bộ mang theo 50.000đ từ nhà sang bản TT , xã Yên Hƣng tìm mua ma túy về sử dụng, dọc đƣờng vào bản X gặp và hỏi mua đƣợc của ngƣời đàn ông dân tộc Mông không quen biết 01 gói heroine với giá 50.000 đồng, Sau khi mua đƣợc X sử dụng một ít còn lại cất giấu trong gấu quần đang mặc đi về nhà. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày tổ công tác Công an huyện Sông Mã và Ban Công an xã Nậm Mằn lên nhà vận động đi cai nghiện X đã tự nguyện giao nộp cho tổ công tác.

Tại bản cáo trạng số: 104/CT-VKSSM ngày 24/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố bị cáo Vì Văn X về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã sau khi phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố Vì Văn X về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vì Văn X từ 16 đến 18 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thƣ màu trắng do bƣu điện Việt Nam phát hành.

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiếm sát. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục đƣợc quy định trong tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nhƣ lời khai tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, lời khai ngƣời làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ nêu trên HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 23 tháng 5 năm 2018 Vì Văn X có hành vi cất giấu trái phép 01 gói ma túy có khối lƣợng 0,1 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của Vì Văn X đã phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự nhƣ Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố là đúng ngƣời, đúng tội.

. Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới chế độ quản lý độc quyền chất ma tuý của Nhà nƣớc, ảnh hƣởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phƣơng, làm gia tăng các tệ nạn xã hội nên cần đƣợc xử lý nghiêm minh phải cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian nhất định, có nhƣ vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

. Xét về nhân thân của bị cáo thấy rằng tuy bị cáo chƣa có tiền án, tiền sự nhƣng có nhân thân xấu, là đối tƣợng nghiện ma tuý. Bị cáo đã đƣợc đi cai nghiện bắt buộc 01 lần, nhận thức hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhận thức đƣợc tác hại của ma tuý đối với bản thân, gia đình và xã hội nhƣng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm khắc tƣơng xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về tình tiết giảm nhẹ: Khi tổ công tác đến vận động bị cáo đi hỗ trợ cắt cơn cai nghiện bị cáo đã tự giao nộp số ma túy, tại cơ quan điều tra và phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên bị cáo đƣợc hƣởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

. Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Theo biên bản xác minh và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, xác định bị cáo là đối tƣợng nghiện chất ma túy không có tài sản riêng, gia đình có hoàn cảnh khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 phong bì bì thƣ niêm phong là vật không có giá trị sử dụng tịch thu tiêu huỷ.

. Về nguồn gốc chất ma túy: Bị cáo X khai mua của ngƣời đàn ông dân tộc Mông không quen biết trên đƣờng vào bản TT, xã Yên Hƣng, quá trình điều tra không xác minh đƣợc tên tuổi địa chỉ cụ thể, do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Vì Văn X phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Vì Văn X 16 (mƣời sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/6/2018. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu tịch hủy: 01 (một) phong bì thƣ màu trắng do bƣu điện Việt Nam phát hành. Mặt trƣớc ghi “vật chứng vụ Vì Văn X, SN 1967, ở Bản PK, xã NM, SM, Sơn La. Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy.Gồm 01 mảnh nilon màu hồng + 01 phong bì thƣ niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở”. Mặt sau phong bì, dán giấy niêm phong đè lên các mép dán của phong bì trên giấy dán niêm phong có ghi dòng chữ “Cơ quan CSĐT – Công an huyện Sông Mã ngày 04/6/2018 và có đầy đủ chữ ký, họ tên của thành phần tham gia niêm phong cùng 02 hình dấu đỏ của Cơ quan CSĐT- Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, ngày 01 tháng 8 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La)

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Vì Văn X phải chịu là 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ