vanban.org

Bản án 143/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình Tuyên án 12/09/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Hồng Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Hồng Q 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 03 tháng 6 năm 2018). Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Hồng Q - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Hồng Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 143/2018/HS-ST
Ngày 12 - 9 - 2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Tô Thị Thanh Tâm.

2. Bà Phạm Thị Thu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Quỳnh Anh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Lại Văn Thịnh, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 134/2018/TLST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 142/2018/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo:

Phạm Hồng Q, sinh năm 1975 tại Thái Bình; nơi cư trú: Thôn 07, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T và bà Vũ Thị N; có vợ là Lê Thị Hồng P (đã ly hôn năm 2005); có 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Quyết định số 13/2016/QĐ-TA ngày 30 tháng 3 năm 2016 Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Phạm Hồng Q vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 15 tháng kể từ ngày 08 tháng 3 năm 2016 (đã chấp hành xong ngày 08 tháng 06 năm 2017); nhân thân: Bản án số 129/HS-ST ngày 28 tháng 4 năm 2004 Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt Phạm Hồng Q 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19 tháng 02 năm 2004, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự; bị bắt tạm giữ từ ngày 03 tháng 6 năm 2018 đến ngày 06 tháng 6 năm 2018 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. (có mặt)

- Người chứng kiến:

1. Ông Trần Xuân B, sinh năm 1968; địa chỉ: Tổ 10, phường H, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. (vắng mặt)

2. Anh Trần Văn Th, sinh năm 1980; địa chỉ: Tổ 24, phường H, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 03 tháng 6 năm 2018, Phạm Hồng Q đi xe ôm từ nhà đến khu vực đường L thuộc tổ 25, phường H, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình mục đích mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Đến nơi, Q đã gặp và mua của 01 người nam giới khoảng 30 tuổi, không biết tên, địa chỉ, 600.000 đồng được 02 gói ma túy. Mua xong, Q cất 02 gói ma túy vào túi quần bên phải đang mặc rồi đi tìm nơi để sử dụng. Khi Q đi đến khu vực cổng công viên nước thuộc Tổ 04, phường H thì bị tổ công tác Công an phường H yêu cầu kiểm tra. Trước sự chứng kiến của ông Trần Xuân B và anh Trần Văn Th, Q tự giác lấy từ trong túi quần bên phải đang mặc giao nộp cho tổ công tác 02 gói ma túy, bên ngoài đều được gói bằng nilong trong suốt, bên trong gói bằng giấy trắng có dòng kẻ, trong cùng đều chứa chất bột màu trắng dạng cục, Q khai đó là hêrôin, Q vừa mua mục đích sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng gửi giám định. Ngoài ra, tổ công tác còn quản lý của Phạm Hồng Q 01 điện thoại Nokia 3 màu xanh đen, 01 ví giả da màu nâu bên trong có số tiền 1.000.000 đồng và 01 thẻ căn cước mang tên Phạm Hồng Q.

Tại Kết luận giám định số 203/KLGĐ-PC54 ngày 03 tháng 6 năm 2018 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu gửi giám định thu của Phạm Hồng Q là ma túy, loại Heroine (Hêrôin), có khối lượng 0,2832 gam (không phẩy hai nghìn tám trăm ba mươi hai gam).

Cáo trạng số 143/CT-VKSTP ngày 21 tháng 8 năm 2018 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình để xét xử đối với Phạm Hồng Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Phạm Hồng Q khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu; đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Hồng Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Phạm Hồng Q mức án từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 03 tháng 6 năm 2018. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy số ma túy đựng trong 01 phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 203/KLGĐ; trả lại bị cáo 01 điện thoại di động Nokia 3 màu xanh đen, 01 ví giả da màu nâu, 01 thẻ căn cước mang tên Phạm Hồng Q và số tiền 1.000.000 đồng; tiếp tục quản lý số tiền 1.000.000 đồng để đảm bảo thi hành án cho bị cáo; bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Phạm Hồng Q đồng ý với tội danh Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã truy tố và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.

Bị cáo Phạm Hồng Q nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, Phạm Hồng Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng, kết luận giám định, lời khai người chứng kiến và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 03 tháng 6 năm 2018, tại khu vực cổng công viên nước thuộc Tổ 04, phường H, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, Phạm Hồng Q tàng trữ trái phép 02 gói ma túy, loại Hêrôin, có khối lượng 0,2832 gam, mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của Phạm Hồng Q là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý chất gây nghiện của nhà nước, ma túy không những gây tác hại cho sức khỏe, phá hoại hạnh phúc của bao gia đình mà còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người đã thành niên, có nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện, nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi trên của Phạm Hồng Q đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: …; c) Hêrôin, Côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; …”.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Phạm Hồng Q không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, thấy năm 2004 bị cáo đã bị kết án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, mặc dù bản án trên của bị cáo đã được xóa án tích nhưng cần đánh giá bị cáo có nhân thân xấu, năm 2016 bị cáo bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc nhưng sau khi chấp hành xong bị cáo lại tiếp tục sử dụng ma túy, điều đó thể hiện bị cáo không tiếp thu sự giáo dục của pháp luật, do đó Hội đồng xét xử cần lên một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo, góp phần đấu tranh phòng ngừa chung nhất là trong bối cảnh hiện nay tội phạm ma túy có chiều hướng gia tăng và ngày càng phức tạp.

Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, không vì mục đích vụ lợi, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, số ma túy thu giữ trong vụ án còn lại sau giám định là vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, mua bán nên cần tịch thu tiêu hủy; 01 điện thoại di động Nokia 3 màu xanh đen, 01 ví giả da màu nâu, 01 thẻ căn cước mang tên Phạm Hồng Q và số tiền 1.000.000 đồng, quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội, do đó cần trả lại cho bị cáo, riêng đối với số tiền 1.000.000 đồng cần tiếp tục giao cho cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình quản lý để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

Về nguồn gốc số ma túy, Phạm Hồng Q khai mua của một người nam giới không quen biết tại khu vực cổng công viên nước thuộc Tổ 04, phường H, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình nên cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Bị cáo Phạm Hồng Q phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật và có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Hồng Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Hồng Q 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 03 tháng 6 năm 2018).

3. Về xử lý vật chứng:

3.1. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ của Phạm Hồng Q còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì số 203/KLGĐ-PC54 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình;

3.2. Trả lại bị cáo Phạm Hồng Q 01 điện thoại di động Nokia 3 màu xanh đen (đã qua sử dụng), 01 ví giả da màu nâu (đã cũ), 01 thẻ căn cước mang tên Phạm Hồng Q và số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng); giao cho cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tiếp tục quản lý số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Phạm Hồng Q;

(Các vật chứng trên đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình vào ngày 21 tháng 8 năm 2018 thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản và Biên lai thu tiền số 0001297)

4. Về án phí: Bị cáo Phạm Hồng Q phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Hồng Q có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 12 tháng 9 năm 2018).

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ