- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng dịch vụ — án dân sự — "Lê Văn Nh yêu cầu Lê Văn D thực hiện nghĩa vụ trả tiền"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của anh Liêu Văn D. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 37/2018/DS-ST ngày 24 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.
- Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| Bản án số: 143/2018/DS-PT Ngày: 08 - 8 - 2018 V/v tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Lập
Các Thẩm phán:
Ông Trần Trọng Nhân
Ông Huỳnh Văn Út
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Kim Yến là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 119/2018/TLPT- DS ngày 02 tháng 7 năm 2018 về việc tranh chấp “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 37/2018/DS-ST ngày 24 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 180/2018/QĐ-PT ngày 13 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lê Văn Nh, sinh năm 1981; Địa chỉ: Ấp X, xã T, huyện Đ, tỉnh C (Có mặt)
- Bị đơn: Anh Liêu Văn D, sinh năm 1966; Địa chỉ: Ấp X, xã T, huyện Đ, tỉnh C (Có mặt)
- Người kháng cáo: Anh Liêu Văn D là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo anh Lê Văn Nh trình bày:
Vào ngày 22 tháng 9 năm 2017, anh Nh có hợp đồng sên vét phần kênh, mương bằng xáng trong phần đất của anh D; thỏa thuận sên vét độ sâu 0,5 mét, ngang 02 mét, giá 200.000 đồng/công. Anh Nh ứng trước 6.000.000 đồng, số tiền còn lại khi sên vét xong tiến hành nghiệm thu, đo đạc, tính toán và đem xáng ra khỏi phần đất thì anh D sẽ thanh toán đủ. Việc thỏa thuận hợp đồng không lập thành văn bản, chỉ thỏa thuận bằng lời nói.
Sau khi sên vét xong, tiến hành nghiệm thu, đo đạc, anh D tự đo độ sâu nhưng không có ý kiến gì. Tổng chiều dài kênh, mương sên vét 62 công, thành tiền 12.400.000 đồng; anh Nh giảm 400.000 đồng, còn lại 12.000.000 đồng; anh Nh tiến đưa xáng ra khỏi phần đất của anh D, anh D cũng không có ý kiến gì. Thời gian 03 ngày sau anh D mới trả cho anh Nh 3.000.000 đồng; còn lại 3.000.000 đồng anh D hẹn đến ngày 06/9/2017 âm lịch trả. Đến hẹn anh D không trả mà tiếp tục hẹn đến ngày 02/10/2017 âm lịch trả nhưng vẫn không thực hiện. Đến ngày 04/10/2017 âm lịch, anh D đến nhà anh Nh cho rằng anh Nh sên vét kênh mương còn cạn, yêu cầu qua năm sau sên vét kênh mương sâu thêm 0,3 mét mới trả số tiền còn lại, nên phát sinh tranh chấp. Do đó, anh Nh khởi kiện yêu cầu anh D trả số tiền còn nợ 3.000.000 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm anh Nh thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, yêu cầu anh D trả 1.500.000 đồng, giảm bớt cho anh D 1.500.000 đồng.
Theo anh Liêu Văn D trình bày:
Anh D thừa nhận việc hợp đồng sên vét kênh mương như anh Nh trình bày. Khi thi công được khoảng 02 – 03 công, anh phát hiện việc sên, vét không đảm bảo độ sâu và có nói với anh Nh nhưng anh Nh cho rằng do sình trào ngược lại; do chỗ tình nghĩa nên anh không nói gì thêm và để anh Nh tiếp tục thi công. Thời gian anh Nh thực hiện khoảng 06 ngày xong và tiến hành nghiệm thu, đo đạc chiều dài; khi kiểm tra anh có nói độ sâu sên vét chỉ 0,2 mét (việc này chỉ anh và anh Nh biết) và đồng ý để anh Nh đem xáng ra khỏi phần đất. Ba ngày sau, anh trả cho anh Nh 3.000.000 đồng và có nói do độ sâu chưa đảm bảo nên trừ lại 3.000.000 đồng (việc này cũng chỉ có anh và anh Nh biết); anh không có hứa trả số tiền còn lại như anh Nh trình bày. Anh D không đồng ý trả cho anh Nh số tiền 1.500.000 đồng theo yêu cầu của anh Nh.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 37/2018/DS-ST ngày 24 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 4 Điều 147 và khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 280, các điều 385, 398 và 410 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Văn Nh. Buộc anh Liêu Văn D trả cho anh Nh số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng).
- Án phí dân sự sơ thẩm:
+ Anh D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) (chưa nộp).
+ Anh Nh không phải chịu. Anh Nh đã nộp tạm ứng số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009597 ngày 01 tháng 3 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi được nhận lại.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm trả và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 08/6/2018, anh Liêu Văn D kháng cáo không đồng ý trả số tiền 1.500.000 đồng cho anh Lê Văn Nh.
Tại phiên tòa phúc thẩm anh Liêu Văn D giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án, của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của anh Liêu Văn D, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 37/2018/DS-ST ngày 24 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét kháng cáo của của anh Liêu Văn D, Hội đồng xét xử xét thấy:
Việc anh D hợp đồng thuê anh Nh thực hiện công việc sên vét kênh mương trong phần đất nuôi tôm của anh D ngày 22/9/2017 là có thực tế. Việc hợp đồng chỉ thoả thuận bằng lời nói nhưng được anh D, anh Nh thừa nhận. Theo thỏa thuận, anh Nh sên vét kênh mương độ sâu là 0,5m; ngang 2m; chiều dài sau khi thực hiện xong sẽ đo đạc cụ thể; giá 200.000 đồng/công; anh Nh ứng trước 6.000.000 đồng, số còn lại sau khi xong công việc sẽ thanh toán đủ.
Quá trình anh Nh thực hiện việc sên vét anh D cũng không có ý kiến gì. Khi sên vét xong, các bên tiến hành nghiệm thu đo đạc, anh Nh đem xáng ra khỏi phần đất anh D cũng không đặt ra việc anh Nh sên vét không đủ độ sâu theo thoả thuận; anh D đã trả thêm cho anh Nh số tiền 3.000.000 đồng. Nếu anh D cho rằng anh Nh sên vét không đủ độ sâu theo thoả thuận, thì trong quá trình sên vét anh D có quyền yêu cầu anh Nh thực hiện sên vét lại đúng theo thoả thuận, trường hợp anh Nh không thực hiện thì anh D có quyền buộc dừng lại việc sên vét hoặc mời chính quyền địa phương lập biên bản để xác định lỗi của anh Nh, nhưng anh D không có động thái gì mà vẫn mặc nhiên để cho anh Nh thực hiện xong công việc và tiến hành nghiệm thu, trả tiền cho anh Nh. Điều này chứng minh kết quả thực hiện công việc của anh Nh được anh D chấp nhận.
Mặt khác, qua xác minh của Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi ngày 11/4/2018 có mặt anh Nh và anh D, tiến hành kiểm tra ngẫu nhiên tại nhiều vị trí ở nhiều con kênh do anh Nh thực hiện sên vét thể hiện có các độ sâu như: 0,4m; 0,5m; 0,6m; 0,65m; 0,7m; 0,8m; không có vị trí nào có độ sâu dưới 0,4m. Việc anh D cho rằng anh Nh sên vét độ sâu chỉ 0,2m là không có căn cứ.
Án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nh, buộc anh D trả cho anh Nh số tiền 1.500.000 đồng là đúng pháp luật. Do đó, kháng cáo của anh D không có căn cứ chấp nhận.
Án phí dân sự phúc thẩm anh D phải chịu theo quy định pháp luật.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;
Không chấp nhận kháng cáo của anh Liêu Văn D. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 37/2018/DS-ST ngày 24 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Văn Nh. Buộc anh Liêu Văn D trả cho anh Nh số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền nêu trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Án phí dân sự sơ thẩm anh D phải chịu 300.000 đồng.
Anh Nh không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; anh Nh đã dự nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0009597 ngày 01/3/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi được nhận lại.
- Án phí dân sự phúc thẩm anh D phải chịu 300.000 đồng; anh D đã dự nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0010022 ngày 08/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi được chuyển thu án phí.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau; - Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi; - Chi cục THADS huyện Đầm Dơi; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn; - Lưu VT(TM:TANDTCM). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Lập |