vanban.org

Bản án 143/2017/HSST — Hình sự

TAND Q. Lê Chân, TP. Hải Phòng Tuyên án 19/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 7 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!
QUẬN!LÊ!CHÂN!
!THÀNH!PHỐ!HẢI!PHÒNG!
Bản án số: 143/2017/HSST
Ngày: 19 - 9 - 2017

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!QUẬN!LÊ!CHÂN,!THÀNH!PHỐ!HẢI!PHÒNG!

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán,"chủ"toạ"phiên"toà: Bà Ngô Thị Sợi.

Các"Hội"thẩm"nhân"dân:

1 . Ông Vũ Khắc Tân.

2 . Ông Nguyễn Văn Hạnh.

Thư"ký"Toà"án"ghi"biên"bản"phiên"toà:"Ông Nguyễn Văn Chỉnh, Cán bộ Toà án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng."

Đại"diện"Viện"kiểm"sát"nhân"dân"Quận"Lê"Chân,"thành"phố"Hải"Phòng tham" gia"phiên"toà: Ông Nguyễn Văn Mát - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2017, tại Trụ sở TAND quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 106/2017/HSST ngày 15 tháng 8 năm 2017, đối với bị cáo:

Nguyễn Quyết T, sinh năm 1979 tại Q; ĐKNKTT và chỗ ở: Tổ 94 khu 9B C, tỉnh Q; nghề nghiệp: Không; con ông Nguyễn Viết B (đã chết) và bà Bùi Thị V, sinh năm 1955; có vợ là Vũ Quế C; chưa có con.

Tiền án: Án số 261 ngày 13/5/1999 TAND quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù tội Tàng trữ trái phép chất ma túy;

Án số 282 ngày 06/6/2002, TAND tỉnh Quảng Ninh xử phạt 8 năm tù tội Mua bán trái phép chất ma túy; 01 năm tù tội Cướp giật tài sản tổng hợp hình phạt của 02 bản án là 9 năm tù;

Án số 133 ngày 08/7/2005, TAND thị xã Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 7 năm tù tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tổng hợp với bản án số 282 ngày 06/6/2002 thành 13 năm 9 tháng 25 ngày; ra tù ngày 27/4/2016.

Tạm giữ từ ngày 04/4/2017, tạm giam ngày 05/4/2017; có mặt.

NHẬN!THẤY:!

Bị cáo Nguyễn Quyết T bị Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 9 giờ ngày 04/4/2017, Nguyễn Quyết T đi xe khách từ nhà tới khu vực chắn tàu đường T, Quận L, Hải Phòng để mua heroine về sử dụng cho bản thân. Khi tới nơi T đi bộ vào khu vực hành lang đường tàu, tại đây T gặp và mua 1.000.000 đồng heroine của một nữ giới không quen biết (không xác định được căn cước lai lịch). Người này nhận tiền và đưa cho T 01 túi nilon bên trong có chứa heroine. T cất số ma túy mua được vào túi áo khoác bên phải và đi về tới khu vực trước cửa nhà số 29 T thì bị tổ công tác Cụm đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 1 - Bộ tư lệnh cảnh sát biển kiểm tra bắt giữ. Ngoài ra còn thu giữ của T 01 điện thoại di động HTC màu trắng đã qua sử dụng.

Tại kết luận giám định số 564/PC54(MT) ngày 04/4/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng chứa trong 01 túi nilon thu giữ của Nguyễn Quyết T cân nặng 1,5622 gam, có trọng lượng heroine là 1,0729 gam.

Quá trình điều tra Nguyễn Quyết T khai nhận về hành vi phạm tội như nội dung nêu trên.

Do người phụ nữ bán ma túy cho Nguyễn Quyết T chưa xác định được căn cước lai lịch nên không có căn cứ để điều tra xử lí.

Tại Bản cáo trạng số 132/CT-VKS ngày 14/8/2017, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân truy tố Nguyễn Quyết T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm p khoản 2 Điều 194 – Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định đã truy tố như cáo trạng và đề nghị HĐXX áp dụng: Điểm p khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 - Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc Hội; khoản 3 Điều 7, khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Quyết T mức án từ 06 năm đến 07 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối bị cáo; Đề nghị tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định và trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu HTC đã qua sử dụng.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, !

XÉT!THẤY:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa đã phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Hồi 10h10’ ngày 04/4/2017, tại khu vực trước cửa nhà số 29 T, Quận L, Hải Phòng, bị cáo Nguyễn Quyết T đã có hành vi cất giữ trái phép 01 túi nilon có chứa 1,0729 gam Hêrôine tinh chất với mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang. Về nhân thân, bị cáo Nguyễn Quyết T có 03 tiền án đều chưa được xóa. Do vậy đã đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Quyết T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy vi phạm điểm p (tái phạm nguy hiểm) khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ quản lý độc quyền chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội.

Xét bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng với lỗi cố ý trực tiếp. Nhân thân đã 04 lần bị kết án, trong đó có 03 tiền án chưa được xóa, lại là người nghiện ma túy, cho thấy bị cáo có nhân thân xấu, ý thức chấp hành pháp luật kém. Do vậy cần xử bị cáo mức án nghiêm, bắt cách ly xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung, đồng thời để bị cáo cai nghiện ma túy.

Song cũng xét: Bị cáo đã thành khẩn khai báo nên cũng xem xét giảm nhẹ theo điểm p khoản 1 Điều 46 - Bộ luật hình sự.

Tại khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “Người"nào"tàng" trữ"trái"phép"chất"ma"túy"thì"bị"phạt"tù"từ"07"năm"đến"15"năm”."

Tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:“Người"nào"tàng" trữ"trái"phép"chất"ma"túy"thì"bị"phạt"tù"từ"05"năm"đến"10"năm”."

Như vậy khung hình phạt của tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại khoản 2 Điều 249 BLHS năm 2015 nhẹ hơn khung hình phạt của tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại khoản 2 Điều 194 BLHS năm 1999. Theo hướng dẫn của Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc Hội, được áp dụng để quyết định hình phạt theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Theo biên bản giao nhận tài sản, vật chứng ngày 14/8/2017 đã thu giữ của bị cáo gồm: 01 phong bì niêm phong số ma túy còn lại sau giám định và chiếc điện thoại nhãn hiệu HTC đã qua sử dụng. Xét phong bì niêm phong đựng ma túy thuộc vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy. Đối chiếc điện thoại nhãn hiệu HTC là của bị cáo không liên quan đến việc phạm tôi nên trả lại bị cáo sử dụng.

Vì"các"lẽ"trên,

QUYẾT!!ĐỊNH:!

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quyết T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Áp dụng: Điểm p khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 - Bộ luật Hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc Hội; khoản 3 Điều 7 và khoản 2 Điều 249 - Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Nguyễn Quyết T 06 (Sáu) năm!tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 04/4/2017.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng số ma túy còn lại sau giám định; trả bị cáo 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu HTC đã qua sử dụng.

Theo biên bản giao nhận tài sản vật chứng ngày 14/8/2017.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai"trăm"nghìn"đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ