vanban.org

Bản án 1428/2018/HNST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Trần Quốc Khánh:

* Về quan hệ vợ chồng: Ông Trần Quốc Khánh ly hôn bà Huỳnh Thị Trúc Ly * Về con chung, tài sản chung, nợ chung: không có. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Trần Quốc Khánh:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒ TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1428/2018/HNST
Ngày: 26-11-2018
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Xuân Mai

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm

2. Ông Phạm Văn Chính

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiếu Hạnh- Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Tp. Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mến - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 782/2018/TLST – HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2018 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 489/2018/QĐXX-ST ngày 22/10/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 450/2018/QĐST-HNGĐ ngày 08/11/2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trần Quốc Khánh, sinh năm: 1986 (có mặt)

Nơi cư trú: ấp 4, xã Mỹ Quý Đông, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An

Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Trúc Ly, sinh năm: 1991 (vắng mặt)

Nơi cư trú: 34/2E ấp Tân Thới 1, xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn, Tp. HCM

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, các biên bản không tiến hành hòa giải được tại tòa nguyên đơn ông Trần Quốc Khánh trình bày:

Ông và bà Huỳnh Thị Trúc Ly có tự nguyện tìm hiểu và tiến đến xây dựng gia đình vào năm 2016, hai bên có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Quý Đông, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An. Sau khi xây dựng gia đình, cuộc sống chung giữa vợ chồng lúc đầu có hạnh phúc, đến năm 2017 thì bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẩn. Nguyên nhân chủ yếu do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên thường xảy ra gây gổ mất hạnh phúc nên vợ chồng đã ly thân từ năm 2016 đến nay. Ông đã nhiều lần cùng bà Trúc Ly hàn gắn tình cảm nhưng không được. Do mâu thuẩn vợ chồng ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không hạnh phúc nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Huỳnh Thị Trúc Ly.

Về con chung: không có

Về tài sản chung: không có.

Về nợ chung: không có.

Về phía bị đơn bà Huỳnh Thị Trúc Ly, Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án cũng như nhiều lần triệu tập bà Ly đến tòa để hòa giải và giải quyết vụ kiện nhưng bà Ly đều vắng mặt, vụ kiện được đưa ra xét xử theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Trần Quốc Khánh vẫn giữ nguyên ý kiến yêu cầu như đã trình bày: Xin được ly hôn với bà Huỳnh Thị Trúc Ly vì ông xác định mâu thuẩn vợ chồng không thể giải quyết, tình cảm vợ chồng không còn.

Về con chung: không có

Về tài sản chung, nợ chung: không có.

Đối với bị đơn bà Huỳnh Thị Trúc Ly, Tòa án đã tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và tống đạt triệu tập đương sự tham gia phiên tòa nhưng bà Ly vẫn vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu ý kiến tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đảm bảo trình tự thủ tục pháp luật quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Bị đơn bà Huỳnh Thị Trúc Ly đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Lời trình bày của ông Trần Quốc Khánh tại phiên tòa công khai hôm nay phù hợp với chứng cứ thu thập được trong hồ sơ thể hiện đây là mối quan hệ hôn nhân hợp pháp vì đôi bên có đăng ký kết hôn theo luật định.

Xét nguyên nhân phát sinh mâu thuẩn giữa ông Khánh và bà Ly chủ yếu do vợ chồng không hợp nhau, giữa ông Khánh và bà Ly có nhiều mâu thuẩn bất đồng nhưng cả hai bên đều không thể tự giải quyết dẫn đến cuộc sống chung giữa vợ chồng mất hạnh phúc. Trước phiên tòa công khai hôm nay, mặc dù bà Ly vắng mặt nhưng ông Khánh vẫn cương quyết ly hôn với bà Ly. Theo ông Khánh trình bày từ khi vợ chồng ly thân đến nay cả hai đều bỏ mặc không còn sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Hội đồng xét thấy các lần Tòa án triệu tập hòa giải để vợ chồng trở về đoàn tụ bà Ly đều không đến thể hiện bà Ly không còn thiện chí muốn đoàn tụ sống chung cùng ông Khánh và mâu thuẩn giữa đôi bên đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt nên xét yêu cầu của ông Khánh xin ly hôn bà Ly là có cơ sở nên chấp nhận.

Về con chung: không có

Về tài sản chung: không có

Về nợ chung: không có

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015,

Căn cứ Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Trần Quốc Khánh:

* Về quan hệ vợ chồng: Ông Trần Quốc Khánh ly hôn bà Huỳnh Thị Trúc Ly

* Về con chung, tài sản chung, nợ chung: không có.

Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm ông Trần Quốc Khánh chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, tính cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông Khánh đã nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo biên lai số 0018903 ngày 10.7.2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn.

Nguyên đơn ông Trần Quốc Khánh có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn bà Huỳnh Thị Trúc Ly vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ