vanban.org

Bản án 1425/2026/DS-PT — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín

TAND TP. Cần Thơ Tuyên án 05/10/2026 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 05/10/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban vụ Quốc hội.

* Tuyên xử: Không chấp nhận đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Đặng Văn Đ. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 16/2026/DS-ST ngày 26 tháng 02 năm 2026 của Toà án nhân dân Khu vực 6 - Cần Thơ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín — án dân sự — "Đặng Văn Đ - Trần Thị U"
  • Tòa quyết gì? Điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1425/2026/DS-PT
Ngày: 05 - 10 - 2026
V/v “Tranh chấp bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng do danh dự, nhân
phẩm, uy tín bị xâm phạm”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Tuyết Mai.

Các Thẩm phán:

Bà Đào Thị Thủy.

Bà Nguyễn Thị Trang Thư.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thảo Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Nhi - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 10 năm 2026 tại Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1604/2026/TLPT-DS ngày 15 tháng 9 năm 2026 về “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do danh dự, nhân phẩm và uy tín bị xâm phạm”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 16/2026/DS-ST ngày 26 tháng 02 năm 2026 của Toà án nhân dân Khu vực 6 - Cần Thơ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1809/2026/QĐ-PT ngày 17 tháng 9 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Đặng Văn Đ, sinh năm 1990 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Địa chỉ thường trú: Ấp B, xã M, thành phố Cần Thơ.

Địa chỉ liên lạc: Số G, ấp P, xã M, thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn: Bà Trần Thị Ú, sinh năm 1979 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp P, xã M, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 08 tháng 4 năm 2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Đặng Văn Đ trình bày: Vào lúc 9 giờ 28 phút ngày 23/02/2025, bà Trần Thị Ú (tên thường gọi là Út C) đứng ngoài đường trước nhà nguyên đơn ông Đặng Văn Đ, bà Trần Thị Ú đã có hành vi dùng lời lẽ thô tục chửi, xúc phạm đến ông Đặng Văn Đ. Sự việc xảy ra thì ông Đặng Văn Đ có quay video lại và có lên Công an xã M để trình báo. Thật chất ông Đặng Văn Đ không có làm gì mâu thuẫn với bà Ú nhưng bà lại có những lời lẽ khó nghe, thô tục lăng mạ xúc phạm danh dự nhân phẩm của ông Đặng Văn Đ là điều hết sức vô lý. Việc bà Ú chửi bới, xúc phạm ông Đặng Văn Đ là làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn, ảnh hưởng việc dạy học của ông Đặng Văn Đ. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

1. Buộc bà Trần Thị Ú phải công khai xin lỗi ông Đặng Văn Đ tại Nhà Văn hóa xã M. Địa chỉ: ấp P, xã M, thành phố Cần Thơ.

2. Buộc bà Trần Thị Ú phải bồi thường cho ông Đ chi phí đi lại, làm đơn là 500.000 đồng.

3. Buộc bà Trần Thị Ú phải bồi thường thiệt hại danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm cho ông Đ số tiền bồi thường là 10 tháng lương cơ sở cụ thể: 10 tháng lương x 2.340.000 đồng/tháng = 23.400.000 đồng.

Tổng số tiền ông Đ yêu cầu bà Trần Thị Ú bồi thường cho ông Đ là 23.900.000 đồng.

-

Đối với bị đơn bà Trần Thị Ú: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án nhưng bị đơn không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án triệu tập hợp lệ bị đơn để tham gia tố tụng tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do đồng thời nguyên đơn đề nghị không tiến hành hoà giải. Vì vậy, Tòa án đã lập biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Biên bản không tiến hành hòa giải được và Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ để đưa vụ án ra xét xử. Bị đơn bà Trần Thị Ú đã được triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.

-

Vụ việc được hòa giải nhưng không thành nên Toà án nhân dân Khu vực 6 - Cần Thơ đưa vụ án ra xét xử, tại bản án sơ thẩm số 16/2026/DS-ST ngày 26 tháng 02 năm 2026 của Toà án nhân dân Khu vực 6 - Cần Thơ đã tuyên như sau:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Văn Đ về việc buộc bị đơn bà Trần Thị Ú phải công khai xin lỗi ông Đ tại hoá xã M và phải bồi thường chi phí đi lại trong quá trình ông Đ làm đơn kiện bà Ú với số tiền là 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng).

2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Văn Đ về việc buộc bà Trần Thị Ú bồi thường thiệt hại danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm cho ông Đặng Văn Đ với số tiền là 01 tháng lương cơ sở là 2.340.000 đồng (hai triệu ba trăm bốn mươi nghìn đồng).

3. Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày nguyên đơn ông Đặng Văn Đ có đơn yêu cầu thi hành án mà bị đơn bà Trần Thị Ú chưa thanh toán, thì hàng tháng bị đơn bà Trần Thị Ú còn phải trả lãi cho nguyên đơn ông Đặng Văn Đ theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự đối với số tiền chậm thi hành án.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự theo quy định của pháp luật.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm, nguyên đơn có đơn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm.

- Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Nguyên đơn kháng cáo yêu cầu chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, cụ thể nguyên đơn yêu cầu chấp nhận cho nguyên đơn số tiền đi lại, làm đơn khởi kiện là 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng). Đồng thời, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về tổn thất tinh thần 10 tháng lương cơ sở với tổng số tiền 23.400.000 đồng (Hai mươi ba triệu bốn trăm ngàn đồng).

Bị đơn từ chối nhận văn bản tố tụng của Tòa án.

- Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ:

Về thực hiện pháp luật: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý đến khi xét xử theo trình tự phúc thẩm. Đơn kháng cáo của nguyên đơn trong hạn luật định nên được xem là hợp lệ về mặt hình thức.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ cũng như lời khai tại phiên tòa của các đương sự cho thấy cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ toàn diện ý kiến cũng như chứng cứ các bên cung cấp và trình bày. Nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại phúc thẩm; Căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác.

Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Ú bồi thường số tiền chi phí đi lại, làm đơn khởi kiện và yêu cầu bà Ú bồi thường tổn thất tinh thần cho nguyên đơn do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm nên cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm” là phù hợp.

Sau khi xét xử sơ thẩm, phía nguyên đơn có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Nguyên đơn kháng cáo yêu cầu bà Trần Thị Ú bồi thường 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng) chi phí đi lại, làm đơn khởi kiện và 10 tháng lương cơ sở do tổn thất tinh thần. Xét kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Theo Thông báo số 75 ngày 08/4/2025 của Công an xã M, bà Trần Thị Ú có hành vi dùng lời lẽ thô tục xúc phạm ông Đặng Văn Đ và đã bị xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm ngàn đồng) về hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác. Sau đó, bà Ú đã nhận thức hành vi sai phạm, công khai xin lỗi ông Đ tại Công an xã và trên trang Facebook “An Ninh trật tự xã M”. Nguyên đơn yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần 10 tháng lương cơ sở, xét tính chất, mức độ hành vi, hậu quả thực tế và việc bà Ú đã bị xử phạt hành chính, đồng thời tự nguyện công khai xin lỗi ông Đ, mức yêu cầu này là cao, không tương xứng với thiệt hại thực tế. Tuy nhiên, hành vi của bà Ú đã xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của ông Đ nên cần bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất tinh thần. Cấp sơ thẩm buộc bà Ú bồi thường 01 tháng lương cơ sở, tương đương 2.340.000 đồng (Hai triệu ba trăm bốn mươi ngàn đồng), là phù hợp với khoản 2 Điều 592 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Đối với yêu cầu bị đơn bà Trần Thị Ú phải bồi thường chi phí đi lại trong quá trình ông Đ làm đơn kiện bà Ú với số tiền 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng) là chi phí đi lại, chi phí làm đơn khởi kiện. Xét thấy, nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh về chi phí đi lại, chi phí làm đơn khởi kiện nên không có căn cứ cho yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát trình bày tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Nguyên đơn được miễn án phí theo điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ:

-Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tụng dân sự năm 2015;

- Điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban vụ Quốc hội.

* Tuyên xử: Không chấp nhận đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Đặng Văn Đ.

1. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 16/2026/DS-ST ngày 26 tháng 02 năm 2026 của Toà án nhân dân Khu vực 6 - Cần Thơ.

2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí cho nguyên đơn.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại 2 Luật hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 4, Điều 6, Điều 7, Điều 36 và Điều 71 Luật hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ