vanban.org

Bản án 142

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "pqt tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂNTOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN
QUẬN!LÊ!CHÂNÊ!CHÂN
THÀNH!PHỐ!HẢI!PHỐ!HẢI!PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 142/2018/HS/2018/HS-ST
Ngày 17-10-20182018

NHÂN!DANH

NƯỚC!CỘNG!HOỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAMỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM

TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!QUTOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!QUẬN!LÊ!CHÂN!-!THÀNH!PHỐ!HẢI!PHỐ!HẢI!PHÒNG

Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"sần"Hội"đồng"xét"xử"sơ"thẩm"gồm"có:

Thẩm"phán"-"Chủ"toạ"phiủ"toạ"phiên"toà: Bà Lê Thị Hải Yến

Các"Hội"thẩm"nhân"dân:"ội"thẩm"nhân"dân:"

Bà Phạm Thị Bích Ngọcạm Thị Bích Ngọc

Ông Nguyễn Văn Hạnhễn Văn Hạnh

Thư"ký"ghi"biên"bản"phiản"phiên"toà:"Bà Phạm Trúc Quỳnh - Thư kThư ký Toà án nhân dân Quận Lê Chân

Đại" diện" Viện" Kiểm"sát" nhân" dân"ểm" sát" nhân"dân" Quận" Lê" Chân"tham"gia" phiên"toà:"tham" gia" phiên" toà:" Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dânà án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xxét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thsơ thẩm thụ lý số 131/2018/HSST - HS ngàyngày 13 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đết định đưa vụ án ra xét xử số 143/2018/QĐXXST/2018/QĐXXST - HS ngày 03 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:ối với bị cáo:

Phạm Quang T, sinh, sinh ngày 25 tháng 3 năm 1993 tại Hải PhòPhòng. Nơi cư trú: Số 82A/40/72 L, phường H, Quận Lờng H, Quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Kề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tdân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không;tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T vạm Văn T và bà Trần Thu T; chưa có vợ conợ con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị tạm giữ ngị tạm giữ ngày 06/6/2018; tạm giam ngàygiam ngày 09/6/2018; có mặt.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 45 phút ngờ 45 phút ngày 05/6/2018, Tổ công tác Công an phưCông an phường D làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực trại khu vực trước cửa nhà số 19/97/96 C, phường D, Quận L, thành phố Hải Phòng phát hiòng phát hiện Phạm Quang T, đang đi xe đạp mini mạp mini màu trắng, có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy.ấn phạm tội về ma túy. Tiến hành kiểm tra, tại vị trí dại vị trí dưới đất cách chỗ T đứng khoảng 80 cmỗ T đứng khoảng 80 cm thu được 01 gói giấy màu trắng, bên trên có ghi sên trên có ghi số 2, bên trong có 01 túi nilon màu trắng, kích thước khoảng 1,5 x 2cm, chbên trong có 01 túi nilon màu t

cm, chứa tinh thể màu trắng, nghi là ma túy đá. Ngoài ra, cà ma túy đá. Ngoài ra, còn thu giữ của T 01 xe đạp mini mữ của T 01 xe đạp mini màu trắng, tổ công tác đã đưa T cùng tang vật về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Kết luận giám định số 300/KLGĐ (Đ6) ngày 08/06/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1815 gam, là loại Methamphetamine.

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Quang T khai nhận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 05/6/2018, T đi xe đạp một mình từ nhà đến chỗ ở của Vương Thị Ngọc B, sinh năm 1979 tại số 42/97/96 C, phường D, Quận L, thành phố Hải Phòng để mua ma túy đá về sử dụng. T đưa cho B số tiền 200.000 đồng, B cầm tiền rồi đi vào trong nhà, khoảng 03 phút sau quay ra đưa cho T 01 gói giấy màu trắng, bên trong có ma túy đá. T cầm gói ma túy trong lòng tay phải rồi đạp xe đi đến khu vực trước cửa nhà số 19/97/96 C thì bị lực lượng Công an kiểm tra, do sợ nên T thả gói ma túy từ tay xuống dưới đất thì bị lực lượng Công an thu giữ, đây là lần thứ hai T mua ma túy của B. Trước ngày 05/6/2018 khoảng 10 ngày, T đã mua ma túy của B lần đầu tiên qua sự giới thiệu của Nguyễn Thanh T, sinh năm 1984, chỗ ở: Số 42/97/96 C, phường D, Quận L, Hải Phòng (chồng B), số ma túy này T đã sử dụng hết. Cả hai lần mua bán ma túy giữa T và B không ai biết, không ai chứng kiến.

Bản Cáo trạng số 144/CT-VKS ngày 11/9/2018, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân truy tố Phạm Quang T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Phạm Quang T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung trên, phù hợp với lời khai của cán bộ bắt giữ, biên bản bắt người phạm tội quả tang, tang vật chứng thu giữ và kết luận giám định cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Phạm Quang T với mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng số ma túy được hoàn lại sau giám định.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã cơ bản đều hợp pháp.

- Về tội danh:

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ thể hiện: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 05/6/2018, bị cáo Phạm Quang T có hành vi cất giữ trái phép 0,1815 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng và bị bắt quả tang tại khu vực trước cửa nhà số 19/97/96 C, phường D, Quận L, thành phố Hải Phòng nên đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà Nước về chất biệt dược mà còn xâm phạm đến trật tự trị an xã hội nên HĐXX xét thấy cần xử bị cáo một mức án nghiêm bắt bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và tạo điều kiện cho bị cáo cai nghiện ma túy.

- Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4] Về nhân thân: Bị cáo chưa tiền án tiền sự.

[5] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn nên HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản riêng, không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Đối với đối tượng Vương Thị Ngọc B và Nguyễn Thanh T, Cơ quan điều tra chưa đủ căn cứ chứng minh đã bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[9] Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án là lượng Methamphetamine còn lại sau giám định đã được niêm phong số 300/2018/PC54, xét đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.

[10] Đối với chiếc xe đạp thu giữ của bị cáo là tài sản của mẹ Th bà Nguyễn Thu Th, bà Th không biết việc T dùng đi mua ma túy, cơ quan điều tra đã ra quyết định trả lại tài sản cho chủ sở hữu nên HĐXX không xét giải quyết.

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Phạm Quang T 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 06 tháng 6 năm 2018.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng số ma túy còn lại sau giám định niêm phong số 300/2018/PC54 (theo biên bản giao, nhận tài sản, vật chứng ngày 12 tháng 9 năm 2018 giữa Công an Quận Lê Chân và Chi cục Thi hành án dân sự Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn ) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi"nhận:"

Cỡ chữ