vanban.org

Bản án 142/2025/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ vào điểm g khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều

51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc K phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Nguyễn Quốc K phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào điểm g khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 142/2025/HSST
Ngày: 27 - 5 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Viết Hoàng Lâm

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Trần Quang Cảnh

2/ Bà Phạm Thị Nhung

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Thành Nguyên – Thư ký Tòa án nhân

dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí

Minh tham gia phiên toà: Bà Phan Ngọc Minh – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, xét

xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 119/2025/HSST ngày 17 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2025/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Quốc K; sinh ngày: 25/3/2001; tại: Kiên Giang; trú tại: Tổ B, ấp

A, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở: 2 đường M, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 07/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt nam; con ông: Nguyễn Xuân K1, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Ngọc H, sinh năm: 1980; vợ con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị bắt giữ, tạm giam từ ngày 15/11/2024.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tìm mua ma túy để sử dụng nên khoảng 22 giờ 00 phút ngày

14/11/2024 Nguyễn Quốc K sử dụng mạng xã hội T liên hệ với một người có nick là @Dan (không rõ lai lịch) đặt mua 2.500.000 đồng ma túy loại Ketamine và hẹn K đến đường Â. Khoảng 23 giờ 15 phút cùng ngày, K sử dụng xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter biển số 59L1 – 131.87 chạy đến đường  thì người bán ma túy hướng dẫn K để tiền xuống đất và đi đến trụ điện phía trước gần nơi K đứng để lấy ma túy. K đi đến thì thấy 01 gói thuốc lá màu bạc có chữ SAIGON, ở bên ngoài gói thuốc dưới lớp nylon bao bọc gói thuốc có 01 túi zip chứa tinh thể không màu nên lấy bỏ vào túi áo khoác bên trái phía trước K đang mặc rồi điều khiển xe

Trang 1

đi về đến trước số B đường T, phường P, quận T thì bị Tổ tuần tra Công an quận T kiểm tra, thu giữ gói ma túy và bàn giao cho Công an phường P xử lý.

Theo Kết luận giám định số 1364/KL-KTHS ngày 22/11/2024 của Phòng

K2 Công an Thành phố H, kết luận: Tinh thể được ký hiệu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,3757gam, loại Ketamine.

Tại bản cáo trạng số 132/CT-VKSQ.TP ngày 15 tháng 4 năm 2025, Viện

kiểm sát nhân dân quận Tân Phú đã truy tố bị cáo Nguyễn Quốc K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú giữ nguyên

nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc K từ 02 năm đến 03 năm tù. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng.

- Bị cáo K đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung vụ án, bị cáo

không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát

viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.

Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng

cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đã có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 23 giờ 15 phút ngày 14/11/2024, tại trước địa chỉ số B đường T, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Quốc K có hành vi cất giữ 1,3757gam ma túy, ở thể rắn, loại Ketamine nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt giữ.

Vì vậy đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Quốc K phạm tội “Tàng trữ

trái phép chất ma túy”, như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo có hành vi tàng trữ 1,3757gam ma túy, loại Ketamine nên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú truy tố bị cáo Nguyễn Quốc K theo điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có cơ sở, đúng pháp luật.

Trang 2

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến

chính sách quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý phạm tội.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối

cải nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015,

sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng….”. Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải phạt bị cáo số tiền 5.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng:

- 01 gói niêm phong số 13647 (4288)/24, bên trong chứa ma túy sau khi

giám định, bên ngoài có chữ ký của Thiếu tá Huỳnh Thanh T1, là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy theo quy định điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- 01 vỏ gói thuốc lá màu bạc có chữ SAIGON, là vật chứng không có giá

trị nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max màu xanh dương, dung

lượng 128Gb, số I 354506129450142, bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter, biển số 59L1 – 131.87, K khai mượn

của bạn tên N (không rõ lai lịch). Qua xác minh do ông Lâm Đại B đứng tên chủ sở hữu nhưng đã bán cho một người (không rõ lai lịch), không làm giấy mua bán và làm thủ tục sang tên. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người quản lý sử dụng hợp pháp, giao cho Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng trong hạn 06 tháng, nếu không tìm được người quản lý, sử dụng hợp pháp thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Những vấn đề khác: Đối với đối tượng @Dan, do chưa xác định được

nhân thân, lai lịch nên chưa có cơ sở xử lý, khi nào điều tra, làm rõ sẽ xử lý sau.

Án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo qui định pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ vào điểm g khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều

51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc K phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Trang 3

Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc K 03 (ba) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 15 tháng 11 năm 2024.

[2] Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng.

[3] Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm a; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong số 13647 (4288)/24, bên trong

chứa ma túy sau khi giám định, bên ngoài có chữ ký của Thiếu tá Huỳnh Thanh T1 (Giám định viên) và 01 (một) vỏ gói thuốc lá màu bạc có chữ SAIGON.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone

12 Pro Max màu xanh dương, dung lượng 128Gb, số I 354506129450142.

- Giao cho Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền thông báo trên phương

tiện thông tin đại chúng trong hạn 06 tháng để tìm người quản lý, sử dụng hợp pháp 01 xe gắn máy hiệu Yamaha, biển số 59L1 – 13187; số khung RLCE55P10BY002676; số máy 55P1 – 002674, nếu không tìm được thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

(Vật chứng hiện đang nhập kho theo Phiếu nhập kho vật chứng số 65/PNK

ngày 16/01/2025 của Công an quận T)

[4] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Nguyễn Quốc K nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình

sự năm 2015.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

[6] Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi

hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ