- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn và tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thái Ngọc Đ.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 142/2025/HNGĐ-ST Ngày: 20/8/2025. V/v: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Thùy Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Hoàng Mến.
2. Ông Nguyễn Nhật Trường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghĩa – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Thị Kim Lài – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5, tỉnh An Giang (Cơ sở 2) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 82/2025/TLST-HNGĐ, ngày 11 tháng 3 năm 2025, về việc: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 07 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 35/2025/QĐST-HNGĐ, ngày 28 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Thái Ngọc Đ - sinh năm 1988, có đơn xin vắng mặt.
Địa chỉ cũ: ấp Phước Tân, xã Vĩnh Phước A, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
Nay là ấp Phước Tân, xã Vĩnh Tuy, tỉnh An Giang.
2. Bị đơn: Ông Hồ Văn K - sinh năm 1983, vắng mặt.
Địa chỉ cũ: ấp Phước An, xã Vĩnh Phước A, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
Nay là ấp Phước An, xã Vĩnh Tuy, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 21/02/2025, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn bà Thái Ngọc Đ như sau:
Bà và ông Hồ Văn K kết hôn từ năm 2008, hôn nhân do mai mối, có tổ chức đám cưới và đến năm 2024 đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang vào ngày 07/02/2014.
Vợ chồng sống chung hạnh phúc được khoảng 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do chồng bà không quan tâm vợ con, không lo làm ăn, chơi cờ bạc nên mắc nợ người ta, bà đã đứng ra trả hết nợ. Ông K hứa bỏ tật bài bạc nhưng không thay đổi được. Từ cuối năm 2021 đến nay vợ chồng bà đã sống ly thân. Hiện vợ chồng không còn khả năng chung sống với nhau được nữa và bà không còn tình cảm với ông Hồ Văn K nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Hồ Văn K.
Thời gian chung sống vợ chồng ông bà có 01 người con chung tên Hồ Diễm K1 – sinh ngày 19/3/2009.
Về tài sản chung: Vợ chồng bà không có tài sản chung.
Về nợ chung: Bà cam đoan vợ chồng bà không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau khi vợ chồng bà ly hôn mà có người kiện vợ chồng bà đòi nợ chung thì bà hoàn toàn chịu trách nhiệm trả nợ chung theo quy định của pháp luật.
Nguyện vọng:
Về hôn nhân: Bà xin được ly hôn với ông Hồ Văn K.
Về con chung: Bà xin nuôi con chung tên Hồ Diễm K1 – sinh ngày 19/3/2009 và không yêu cầu ông Hồ Văn K cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Hồ Văn K đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng ông Hồ Văn K không đến Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay bất cứ yêu cầu nào của ông Hồ Văn K.
- Phát biểu của kiểm sát viên - đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, tỉnh An Giang tại phiên tòa:
Về việc tuân thủ theo pháp luật về tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án đã tuân thủ các thủ tục về thụ lý vụ án, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách đương sự, thẩm quyền giải quyết vụ kiện; Việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định; Thủ tục công khai chứng cứ và hòa giải đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt không có lý do là không tuân thủ pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 228 Bộ luật tố tụg dân sự xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của đương sự, đối chiếu với các quy định của pháp luật, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử xử cho bà Thái Ngọc Đ được ly hôn với ông Hồ Văn K. Về con chung, đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Hồ Diễm K1 – sinh ngày 19/3/2009 cho bà Thái Ngọc Đ nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và nợ chung đương sự không yêu cầu nên Viện kiểm sát không có đề nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Tranh chấp giữa bà Thái Ngọc Đ và ông Hồ Văn K là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5, tỉnh An Giang theo quy định tại Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2025.
Ông Hồ Văn K là bị đơn trong vụ án, ông Hồ Văn K có địa chỉ rõ ràng, đó cũng là nơi ông đăng ký hộ khẩu thường trú, hiện nay ông Hồ Văn K vẫn còn hộ khẩu thường trú ở địa chỉ trên. Tòa án đã niêm yết các thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông Hồ Văn K vắng mặt tại phiên tòa 02 lần không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông Hồ Văn K.
Bà Thái Ngọc Đ có đơn xin vắng mặt, xét thấy việc vắng mặt của bà Thái Ngọc Đ không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà Thái Ngọc Đ.
Về hôn nhân: Bà Thái Ngọc Đ và ông Hồ Văn K tổ chức đám cưới từ năm 2008, hôn nhân do mai mối và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 01/2014, ngày 07/02/2014, như vậy Hội đồng xét xử xác định hôn nhân của bà Thái Ngọc Đ và ông Hồ Văn K là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Xét về quan hệ hôn nhân cho thấy: Tuy hôn nhân của bà Thái Ngọc Đ và ông Hồ Văn K là hôn nhân do mai mối, ông bà chưa tìm hiểu kỹ cá tính của nhau nhưng ông bà sống hạnh phúc được khoảng 02 năm và có 01 người con chung. Tuy nhiên, vợ chồng ông bà đã phát sinh mâu thuẫn không tự giải quyết được. Bà Thái Ngọc Đ cho rằng ông Hồ Văn K không quan tâm vợ con, không lo làm ăn, còn cờ bạc nên mắc nợ người ta, bà đã đứng ra trả hết nợ, ông K hứa bỏ tật bài bạc nhưng không thay đổi được, từ cuối năm 2021 đến nay vợ chồng bà đã sống ly thân. Ngày 14/5/2025 và ngày 02/6/2025, Tòa án đã tổ chức hòa giải để động viên, giải thích giúp vợ chồng ông bà đoàn tụ nhưng ông Hồ Văn K vắng mặt và bà Thái Ngọc Đ cương quyết ly hôn với ông Hồ Văn K. Xét thấy, trong thời gian ly thân bà và ông Hồ Văn K vẫn còn liên lạc với nhau, bà có gọi điện thoại báo cho ông Hồ Văn K biết bà đã nộp đơn ly hôn ở Tòa án, khi Tòa án mời ông Hồ Văn K đến Tòa án để hòa giải để động viên, giải thích giúp vợ chồng ông bà đoàn tụ thì ông Hồ Văn K không có mặt cho thấy ông không còn quan tâm gì đến cuộc hôn nhân này và cho thấy mục đích hôn nhân của ông bà không đạt được. Bà Thái Ngọc Đ cương quyết xin ly hôn với ông Hồ Văn K và tỏ rõ thái độ không còn tình cảm yêu thương ông Hồ Văn K, vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Thái Ngọc Đ.
Về con chung: Bà Thái Ngọc Đ và ông Hồ Văn K có 01 người con chung tên Hồ Diễm K1 – sinh ngày 19/3/2009, hiện nay bà Thái Ngọc Đ đang nuôi dưỡng.
Ông Hồ Văn K không có ý kiến về quyền nuôi con. Bà Thái Ngọc Đ xin nuôi con chung tên Hồ Diễm K1 – sinh ngày 19/3/2009 và cháu K1 có nguyện vọng sống cùng mẹ nên căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Thái Ngọc Đ.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Thái Ngọc Đ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Thái Ngọc Đ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Tại phiên tòa sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ, đại diện Viện kiểm sát có quan điểm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xét đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí HNGĐST: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí. Bà Thái Ngọc Đ phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí trước đây theo biên lai thu số 0014805, ngày 11/3/2025, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56 và Điều 58 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Áp dụng Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.
1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thái Ngọc Đ.
Về hôn nhân: Xử cho bà Thái Ngọc Đ ly hôn với ông Hồ Văn K.
Về con chung: Giao cháu Hồ Diễm K1 – sinh ngày 19/3/2009 cho bà Thái Ngọc Đ tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Ông Hồ Văn K được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Không ai được phép cản trở ông thực hiện quyền này.
Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà Thái Ngọc Đ phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí trước đây theo biên lai thu số 0014805, ngày 11/3/2025, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
3. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
4. Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7, Điều 7a, Điều 7b Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM/. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: -TAND tỉnh; -VKSND cùng cấp; -THADS; -Các đương sự; -Lưu hồ sơ. | Phan Thị Thùy Trang |