vanban.org

Bản án 142/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

luật tố tụng dân sự năm 2015;

của Ngân hàng Nhà nước G Nam quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Đặng Đăng Khoa"
  • Tòa quyết gì? luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ chính? Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN Quy định về hoạt động cho vay củ…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 142/2025/DS-ST
Ngày: 27/5/2025
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA G NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN X, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Vũ Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Minh Phương

2. Ông Đặng Hiếu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quốc Thiên Hương - Thư ký Tòa án nhân dân

Quận X.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận X tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn

Thị Hồng Hạnh- Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận X, Thành

phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 270/2024/TLST-DS

ngày 15 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết

định đưa vụ án ra xét xử số 66/2025/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 4 năm 2025;

Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2025/QĐST-DS ngày 07 tháng 5 năm 2025,

giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng V(gọi tắt là Sacombank); địa chỉ: số 266-268

đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường 8, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Phạm Trường Thịnh,

sinh năm: 1994 (Giấy uỷ quyền số 1162/2024/UQ-TT.XLN ngày 19/9/2024), (vắng

mặt- có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Đặng Đăng G, sinh năm 1992; địa chỉ: 238/8B đường

Đội Cung, Phường 9, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh, (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 19/9/2024 và các bản tự khai của đại diện ủy quyền của

nguyên đơn trình bày:

Ngày 11/01/2023, Ngân hàng Vcó ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (Giấy đề

nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành thẻ

và sử dụng thẻ tín dụng ngân hàng) với ông Nguyễn Đặng Đăng G. Căn cứ vào thu

nhập của ông Nguyễn Đặng Đăng G, ngân hàng đã cấp hạn mức tín dụng là 50.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất là 2,77%/tháng (lãi suất trong hạn).

Sau khi được cấp thẻ, ông G đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là

12.000.000 đồng. Sacombank đã nhiều lần thông báo nhắc nợ nhưng ông G vẫn không có thiện chí trả nợ, vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản điều khoản và Điều kiện phát hành thẻ tín dụng của ngân hàng), nên đến ngày 11/12/2023 Sacombank đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 57.970.849 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại. Tính đến ngày 14/8/2024, ông G còn nợ số tiền 77.854.001 đồng, trong đó số tiền nợ gốc là 57.970.849 đồng và tiền nợ lãi quá hạn là 19.883.152 đồng.

* Tại phiên tòa:

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Phạm Trường Tcó đơn xin vắng

mặt nhưng gửi bảng tính lãi tính đến ngày 27/5/2025, tổng số nợ ông Nguyễn Đặng Đăng G phải có trách nhiệm thanh toán là 100.783.765 (Một trăm triệu bảy trăm tám mươi ba nghìn bảy trăm sáu mươi lăm) đồng, trong đó số tiền nợ gốc là 57.970.849 (Năm mươi bảy triệu chín trăm bảy mươi nghìn tám trăm bốn mươi chín) đồng và tiền nợ lãi quá hạn là 42.812.916 (Bốn mươi hai triệu tám trăm mười hai nghìn chín trăm mười sáu) đồng. Ông G còn phải tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 28/5/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo mức lãi suất quá hạn quy định tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương tín.

* Đối với bị đơn ông Nguyễn Đặng Đăng G: Trong quá trình giải quyết vụ án

ông G không đến Tòa và cũng không gửi văn bản trình ôngy ý kiến của mình đối với yêu cầu của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương tín.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận X phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử đúng quy định

pháp luật. Nguyên đơn, chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành nhưng đã được Tòa án thực hiện thủ tục tống đạt, niêm yết hợp lệ, quyền và lợi ích hợp pháp được đảm bảo. Tuy nhiên, Thẩm phán chưa đảm bảo đúng thời gian tống đạt thông báo thụ lý cho bị đơn và thời hạn chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử.

Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát Quận X đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi

kiện của Ngân hàng Vvề việc buộc ông Nguyễn Đặng Đăng G thanh toán cho Ngân hàng Vtính đến ngày 27/5/2025 số tiền nợ là 100.783.765 (Một trăm triệu bảy trăm tám mươi ba nghìn bảy trăm sáu mươi lăm) đồng, trong đó số tiền nợ gốc là 57.970.849 (Năm mươi bảy triệu chín trăm bảy mươi nghìn tám trăm bốn mươi chín) đồng và tiền nợ lãi quá hạn là 42.812.916 (Bốn mươi hai triệu tám trăm mười hai nghìn chín trăm mười sáu) đồng. Tiền lãi sẽ được tiếp tục tính từ ngày 28/5/2025 trên số tiền nợ gốc còn lại cho đến khi bị đơn trả hết nợ theo mức lãi suất thoả thuận hợp đồng đã ký. Bị đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại Gên tòa

và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có nhận định:

Về tố tụng:

* Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án:

Tranh chấp giữa Ngân hàng V(Sacombank) và ông Nguyễn Đặng Đăng G là

tranh chấp hợp đồng vay tài sản quy định tại Khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng

dân sự năm 2015. Do bị đơn là ông Nguyễn Đặng Đăng G có nơi cư trú cuối cùng

là Quận X, nên căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ

luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa

án nhân dân Quận X.

* Về người tham gia tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Đặng Đăng G đã được Tòa án

triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Vì vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử

vắng mặt bị đơn.

Ngày 22/5/2025, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Phjam

Trường Thịnh có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 227

của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt

nguyên đơn.

Về chứng cứ của vụ án:

Phía nguyên đơn đã nộp bản sao Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp

đồng ngày 11/01/2023 và bản điều khoản và điều kiện phát hành thẻ và sử dụng thẻ

tín dụng ngân hàng; đồng thời nộp các chứng cứ khác về tình trạng pháp lý của

nguyên đơn, nhân thân của bị đơn. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống

đạt hợp lệ cho bị đơn thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc

giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp

nhưng bị đơn không đến Tòa án và không gửi văn bản trình bày ý kiến, tham gia

phiên họp, phiên hòa giải. Chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là tài liệu bản sao;

đồng thời bị đơn không có văn bản phản đối nội dung và tính pháp lý của tài liệu là

chứng cứ do nguyên đơn cung cấp. Căn cứ Khoản 1 Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân

sự, Hội đồng xét xử xác định bản sao Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng

ngày 11/01/2023 và bản điều khoản và điều kiện phát hành thẻ và sử dụng thẻ tín

dụng ngân hàng là chứng cứ để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp

đồng; đồng thời xem xét cùng với các chứng cứ khác do nguyên đơn cung cấp làm

cơ sở để giải quyết vụ án.

Xét yêu cầu của nguyên đơn:

* Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả nợ gốc:

Ngày 11/01/2023, Ngân hàng Vcó ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (Giấy đề

nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành thẻ

và sử dụng thẻ tín dụng ngân hàng) với ông Nguyễn Đặng Đăng G.

Căn cứ vào thu nhập của ông Nguyễn Đặng Đăng G, ngân hàng đã cấp hạn

mức tín dụng là 50.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất là

2,77%/tháng (lãi suất trong hạn).

Sau khi được cấp thẻ, ông G đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là

12.000.000 đồng. Sacombank đã nhiều lần thông báo nhắc nợ nhưng ông G vẫn không có thiện chí trả nợ, vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản điều khoản và Điều kiện phát hành thẻ tín dụng của ngân hàng), nên đến ngày 11/12/2023 Sacombank đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 57.970.849 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại. Nguyên đơn chỉ yêu cầu ông G có trách nhiệm thanh toán khoản nợ trên cho nguyên đơn, ngoài ra không yêu cầu ai khác phải có trách nhiệm thanh toán.

Xét thấy việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với

số tiền nợ gốc là 57.970.849 ( Năm mươi bảy triệu chín trăm bảy mươi nghìn tám trăm bốn mươi chín) đồng là có căn cứ nên chấp nhận.

* Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả lãi:

Nguyên đơn yêu cầu tính lãi phát sinh trên số nợ gốc là 57.970.849 ( Năm

mươi bảy triệu chín trăm bảy mươi nghìn tám trăm bốn mươi chín) đồng tính từ ngày 11/12/2023 đến ngày xét xử 27/5/2025 theo mức lãi suất nợ quá hạn là 4.155%/tháng. Hội đồng xét xử có nhận định như sau:

Ngày 11/01/2023 bị đơn ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và

bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng và đồng ý mức lãi suất là 2,77%/tháng, mức lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất được công bố áp dụng tại thời điểm hiện tại, mức lãi suất quá hạn là 4.155%/tháng. Xét thấy việc thỏa thuận lãi suất vay phù hợp theo quy định tại Khoản 2 Điều 91, Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 và phù hợp quy định tại Khoản 1, 2 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.

Hội đồng xét xử xét thấy việc thỏa thuận lãi suất giữa nguyên đơn và bị đơn

là hoàn toàn tự nguyện và không trái pháp luật. Vì vậy, Sacombank yêu cầu ông G trả số tiền lãi tính đến ngày xét xử 27/5/2025 là 42.812.916 (Bốn mươi hai triệu tám trăm mười hai nghìn chín trăm mười sáu) đồng là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của

nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Đặng Đăng G phải trả cho Ngân hàng Vtổng số tiền tính đến ngày 27/5//2025 là 100.783.765 (Một trăm triệu bảy trăm tám mươi ba nghìn bảy trăm sáu mươi lăm) đồng, trong đó số tiền nợ gốc là 57.970.849 (Năm mươi bảy triệu chín trăm bảy mươi nghìn tám trăm bốn mươi chín) đồng và tiền nợ lãi quá hạn là 42.812.916 (Bốn mươi hai triệu tám trăm mười hai nghìn chín trăm mười sáu) đồng. Ông G còn phải tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 28/5/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo mức lãi suất quá hạn quy định tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín.

Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày

30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí

và lệ phí Tòa án, yêu cầu của Ngân hàng Vđược chấp nhận nên bị đơn ông

Nguyễn Đặng Đăng G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.039.188 (Năm triệu

không trăm ba mươi chín nghìn một trăm tám mươi tám) đồng.

Hoàn lại số tiền tạm ứng án phí là 1.946.350 (Một triệu chín trăm bốn mươi

sáu nghìn ba trăm năm mươi) đồng cho Ngân hàng Vtheo biên lai thu số 0043122

ngày 11/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự Quận X, Thành phố Hồ Chí

Minh.

Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận

X đề nghị về nội dung và kiến nghị về tố tụng là có căn cứ nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,

Điều 186, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ

luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ khoản 1, 2 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016

của Ngân hàng Nhà nước G Nam quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín

dụng, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng

án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Vvề việc yêu cầu ông Nguyễn

Đặng Đăng G trả nợ.

Buộc ông Nguyễn Đặng Đăng G phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Vtổng số

tiền tính đến ngày 27/5/2025 là 100.783.765 (Một trăm triệu bảy trăm tám mươi ba

nghìn bảy trăm sáu mươi lăm) đồng, trong đó số tiền nợ gốc là 57.970.849 (Năm

mươi bảy triệu chín trăm bảy mươi nghìn tám trăm bốn mươi chín) đồng và tiền nợ

lãi quá hạn là 42.812.916 (Bốn mươi hai triệu tám trăm mười hai nghìn chín trăm

mười sáu) đồng. Thanh toán một lần sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Ông Nguyễn Đặng Đăng G còn phải tiếp tục thanh toán khoản lãi phát sinh

kể từ ngày 28/5/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo mức lãi suất quá hạn quy định

tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài

Gòn Thương Tín.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Đặng Đăng G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.039.188 (Năm

triệu không trăm ba mươi chín nghìn một trăm tám mươi tám) đồng.

Hoàn lại số tiền tạm ứng án phí là 1.946.350 (Một triệu chín trăm bốn mươi

sáu nghìn ba trăm năm mươi) đồng cho Ngân hàng Vtheo biên lai thu số 0043122 ngày 11/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền

kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ