vanban.org

Bản án 142/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 07/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lò Văn H phạm tội: Tàng tr trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lò Văn H 01 (một) năm 10 (mười) tháng t . Thời hạn chấp hành hình phạt t tính từ ngày 16/04/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LÒ VĂN H- PTTTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn H phạm tội: Tàng tr trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ
TỈNH SN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 142/2023/HSST
Ngày 07 - 08 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ

- Thành phần Hội đồng xét xử S thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lô Văn Long

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Quàng Văn Biên và ông Nguyễn Văn Nghĩa

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Phương Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà: Ông Quàng Văn Cuộc - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 08 năm 2023 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sn La, xét xử S thẩm công khai vụ án hình sự S thẩm thụ lý số: 142/2023/HSST ngày 14 tháng 07 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 139/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 07 năm 2023 đối với bị cáo:

Lò Văn H, sinh năm 1964, tại huyện Sông M, tỉnh Sn La;

Trú tại: Bản Nà S, xã Chiềng S, huyện Sông Mã, tỉnh Sn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 3/10; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt nam; con ông Lò Văn Đ (đã chết) và bà Lò Thị Kh; bị cáo có vợ là Lò Thị Đ và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 14/12/2004 bị Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xử phạt 02 năm t nhưng cho hưởng án treo về tội Tàng tr trái phép chất ma túy. Ngày 17/11/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xử phạt 15 tháng t giam về tội Tàng tr trái phép chất ma túy; bị bắt tạm gi , tạm giam từ ngày 16/04/2023 cho đến nay; có mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Lò Thị Đ, 61 tuổi; trú tại: Bản Nà S, xã Chiềng S, huyện Sông M, tỉnh Sn La, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ S vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 19 giờ 00 phút ngày 15/4/2023 tổ công tác Công an xã Chiềng S làm nhiệm vụ tại Nà S, xã Chiềng S, huyện Sông Mã phát hiện 01 người đàn ông điều khiển xe mô tô hướng từ bản Ten Ư về bản Nà S, c ng xã Chiềng S có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy, tổ công tác đã yêu cầu dừng xe để kiểm tra, người đàn ông khai nhận là Lò Văn H, sinh năm 1964 trú tại bản Nà S, xã Chiềng S, khi được yêu cầu kiểm tra và đề nghị giao nộp nh ng vật vi phạm pháp luật đang cất giấu thì H đã lấy từ túi áo ngực bên trái đang mặc ra 01 gói nilon màu hồng bên trong chứa chất bột liên kết màu trắng giao nộp cho tổ công tác, H khai nhận đó là ma túy do H mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H, thu gi vật chứng nghi là ma túy. Ngoài ra, còn tạm gi của H 01 xe mô tô nhãn hiệu HUNDASU màu Sn đen, có BKS 26K7-2592 đã qua sử dụng.

Ngày 16/4/2023, tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã đã tiến hành mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng vật chứng và trích mẫu giám định, kết quả: Số chất bột liên kết màu trắng thu gi của H có tổng khối lượng 0,23 gam, đã trích 0,06 gam làm mẫu giám định ký hiệu H, vật chứng còn lại 0,17 gam ký hiệu L.

Kết luận giám định số 811/KL-KTHS ngày 17/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sn La kết luận:

“+ Mẫu gửi giám định ký hiệu H gửi giám định là ma túy; Loại Heroine; có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,06 gam.

+ Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,23 gam loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất”.

Quá trình điều tra bị cáo Lò Văn H khai nhận hành vi phạm tội như sau: Khoảng 18 giờ ngày 15/4/2023 Lò Văn H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HUNDASU có BKS 26K7-2592 từ nhà ở bản Nà S, xã Chiềng S đến khu vực bản Ten Ư, c ng xã Chiềng S để tìm mua ma túy sử dụng, khi đi H đem theo số tiền 100.000đ (là tiền do H lao động tiết kiệm mà có). Khi đến nơi, H gặp một người thanh niên người dân tộc Mông không quen biết đang đi bộ trên đường, H đã hỏi mua được của người này 01 gói Heroine được gói bằng nilon màu hồng với số tiền 100.000đ. Sau khi mua được ma túy, H cất gói ma túy trong túi áo trước ngực đang mặc rồi điều khiển xe về, khi về đến khu vực bản Nà S, Chiềng S, huyện Sông Mã thì bị tổ công tác công an xã Chiềng S làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang, thu gi số ma túy cất giấu c ng tài sản liên quan.

Cáo trạng số 92/CT-VKSSM ngày 12 tháng 07 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử bị cáo Lò Văn H về tội: Tàng tr trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã vẫn gi nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật viện dẫn áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lò Văn H phạm tội: Tàng tr trái phép chất ma túy

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lò Văn H từ 01 năm 10 tháng đến 02 năm 04 tháng tù;

Đề nghị Hội đồng không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị HĐXX:

Tịch thu để tiêu hủy 0,17 gam ma túy, loại Heroine đựng trong một túi nilon màu trắng; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở;

- Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Lò Thị Định 01 xe mô tô nhãn hiệu HUNDASU màu Sn đen có BKS 26K7-2592, số khung 004937, số máy 444937, đã qua sử dụng.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự S thẩm theo quy định.

Bị cáo Lò Văn H không có ý kiến gì đối đáp với lời luận tội của Kiểm sát viên, chỉ xin được giảm nhẹ hình phạt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Lò Thị Định đề nghị HĐXX xem xét xin được trả lại chiếc xe mô tô.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, các tài liệu khác có trong hồ S vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ S vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về căn cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lò Văn H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên toà ph hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an xã Chiềng S, huyện Sông Mã lập vào hồi 19 giờ 10 phút, ngày 15/04/2023, bắt quả tang Lò Văn H có hành vi tàng tr trái phép chất ma túy. Vật chứng của vụ án là ma túy, loại Heroine. Kết luận giám định và ph hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ S vụ án, thể hiện: Ngày 15/04/2023 bị cáo Lò Văn H đã có hành vi tàng tr 0,23 gam ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt gi .

Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, vẫn gi nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố bị cáo về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

Từ nh ng căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi mà bị cáo Lò Văn H thực hiện đã phạm tội: Tàng tr trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt t từ một năm đến năm năm.

Về tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương nên cần xử lý nghiêm.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo tuy không có tiền án, tiền sự nhưng là người có nhân thân xấu, đã 02 lần bị kết án, đã được xóa án tích. Do đó, khi lượng hình cũng cần cân nhắc để có một mức án ph hợp tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

Để trừng trị đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội, cũng như công tác đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định mới đảm bảo cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung là phạt tiền: Hội đồng xét xử thấy bị cáo không có tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về các tình tiết, đối tượng có liên quan:

- Đối với người đàn ông dân tộc Mông, không rõ tên, địa chỉ là người đã bán ma tuý cho bị cáo tại khu vực bản ten Ư, xã Chiềng S, Sông Mã vào ngày 15/4/2023. Do không xác định được họ tên đầy đủ và địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.

Về vật chứng của vụ án: Vật chứng đang bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Sông Mã gồm: 0,17 gam ma túy, loại Heroine đựng trong một túi nilon màu trắng; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở; 01 xe mô tô nhãn hiệu HUNDASU màu Sn đen có BKS 26K7-2592, số khung 004937, số máy 444937, đã qua sử dụng.

- Đối với 0,17 gam ma túy, loại Heroine đựng trong một túi nilon màu trắng; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở là vật không có giá trị sử dụng, nên cần tịch thu để tiêu hủy.

- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HUNDASU màu Sn đen có BKS 26K7-2592 là phương tiện mà bị cáo Lò Văn H sử dụng để đi mua ma túy ngày 15/04/2023, xe đăng ký mang tên Cà Văn H. trú tại bản Nà H, xã Nậm T, huyện Sông Mã. Kết quả tra cứu, chiếc xe không có trong cơ sở d liệu xe máy vật chứng. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lò Thị Đ (vợ của bị cáo H) trình bày: Chiếc xe máy nêu trên là tài sản chung của gia đình, xe mua từ năm 2022 với giá 4.000.000đ tại một cửa hàng bán xe máy cũ tại thị trấn Sông Mã. Ngày 15/04/2023 chồng của bà là bị cáo Lò Văn H sử dụng chiếc xe máy để đi mua ma túy, bị Công an bắt gi và thu gi chiếc xe thì bà không biết. Bà Đ đề nghị xin được trả lại chiếc xe máy, nên HĐXX cần chấp nhận và trả lại 01 chiếc xe máy có đặc điểm nêu trên cho bà Lò Thị Đ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự S thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Lò Văn H phạm tội: Tàng tr trái phép chất ma túy.

- Xử phạt bị cáo Lò Văn H 01 (một) năm 10 (mười) tháng t . Thời hạn chấp hành hình phạt t tính từ ngày 16/04/2023.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu để tiêu huỷ 0,17 gam ma túy, loại Heroine đựng trong một túi nilon màu trắng; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở;

- Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà: Lò Thị Định 01 xe mô tô nhãn hiệu HUNDASU màu Sn đen có BKS 26K7-2592, số khung 004937, số máy 444937, đã qua sử dụng

Nh ng vật chứng trên theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 10 giờ 00 phút ngày 14 tháng 07 năm 2023 gi a Công an huyện Sông Mã và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc hội. Bị cáo Lò Văn H phải chịu án phí hình sự S thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 07/8/2023).

Cỡ chữ