- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Văn M & Lềm Văn D - Mua bán trái phép chất ma tuý & Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 L…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; Bị cáo Lềm Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TX. QUẾ VÕ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| _________ Bản án số: 142/2023/HSST Ngày 19/07/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đắc Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Huệ và Bà Nguyễn Thị Quỳnh Chúc.
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hòa, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Đình Thắng, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 07 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 145/2023/HSST ngày 22 tháng 06 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2023/QĐXXST - HS ngày 06 tháng 07 năm 2023, đối với:
1. Bị cáo: Nông Văn M, sinh năm 1991.
HKTT: Bản Rọoc, xã Tú Mịch, huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 04/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nông Văn L (đã chết) và bà Nông Thị D1 (đã chết); Gia đình bị cáo có 10 con, bị cáo là con thứ chín; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
+ Tại bản án số 41 ngày 19/12/2014 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 03 tháng tù về tội Đánh bạc. Ra trại ngày 25/12/2014, chấp hành xong án phí ngày 19/12/2014.
+ Tại Quyết định số 69 QĐ/UBND ngày 08/6/2021 của UBND xã Tú Mịch, huyện Lộc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã đối với M về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Chấp hành xong Quyết định ngày 09/9/2021.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/04/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh. Có mặt tại phiên tòa.
2. Bị cáo: Lềm Văn D, sinh năm 2000.
HKTT: Bản Lăng, Phổng Lăng, Thuận Châu, tỉnh Sơn La.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 06/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lềm Văn N (đã chết) và bà Lò Thị D2; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/04/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh. Có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa của bị cáo Nông Văn M: Ông Nguyễn Văn Hải – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
* Người bào chữa của bị cáo Lềm Văn D: Bà Nguyễn Thị Trang – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lềm Văn D là đối tượng sử dụng ma túy từ đầu năm 2021. Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 02/4/2023, D đang ở phòng trọ tại khu Mao Dộc, phường Phượng Mao, thị xã Quế Võ với Nguyễn Trung Đ, sinh năm 1999, HKTT: Thôn Hữu Bằng, xã Ngọc Xá, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh thì có nhu cầu sử dụng ma túy nên D rủ Đ đi chơi cùng (D không nói cho Đ biết việc đi mua ma túy) thì Đ đồng ý. Sau đó, D và Đ đi bộ đến cổng khu nhà trọ của ông Nguyễn Tuấn Nguyên ở tại khu Mao Dộc, phường Phượng Mao thì gặp M đang có biểu hiện bán trái phép chất ma túy nên D tiến đến gần M nói: "Anh có ma túy không, bán cho em hai trăm", M nói “có”. Tại đây, D đưa cho M số tiền 200.000 đồng, M đưa tay trái ra cầm tiền đút vào túi quần phía trước bên trái đang mặc, đồng thời đưa lại cho D 01 gói giấy màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng. D biết là ma túy cần mua nên đưa tay phải ra cầm gói giấy màu vàng chứa ma túy thì bị lực lượng Công an bắt quả tang M và D và thu giữ vật chứng như đã nêu ở trên.
Về nguồn gốc số ma túy M bán cho D. Quá trình điều tra M khai mua của 01 người đàn ông không quen biết với giá 100.000 đồng vào trưa ngày 02/4/2023 tại khu Giang Liễu, phường Phương Liễu, thị xã Quế Võ với mục đích để bán kiếm tiền chênh lệch.
Vật chứng thu giữ:
+ Thu giữ tại lòng bàn tay phải của D 01 bọc giấy màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng (được niêm phong vào phong bì thư).
+ Thu giữ tại túi quần phía trước bên trái của M số tiền 200.000 đồng.
Tại bản Kết luận giám định số 818/KL-KTHS ngày 04/04/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 (một) gói giấy màu vàng gửi giám định có khối lượng là 0,1124 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Heroin”
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, bị cáo Nông Văn M và Lềm Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 106/CT-VKSQV ngày 21/06/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đã truy tố Nông Văn M về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1, Điều 251 Bộ luật hình sự; Lềm Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nông Văn M và Lềm Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo Nông Văn M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và Lềm Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nông Văn M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và Lềm Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị:
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Nông Văn M từ 26 tháng đến 32 tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày 02/04/2023. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Lềm Văn D từ 12 tháng đến 16 tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày 02/04/2023. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ số mẫu vật còn lại sau giám định trong phong bì thư có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 200.000 đồng.
Bị cáo Nông Văn M và Lềm Văn D nhận tội, không có ý kiến gì và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về gia đình và xã hội.
Người bào chữa của bị cáo Nông Văn M và Lềm Văn D không có ý kiến tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để giáo dục các bị cáo trở thành người tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã Quế Võ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo Nông Văn M và Lềm Văn D tại cơ quan điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường, lời khai của những người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án xác định được: Hồi 17h00’ ngày 02/4/2023, tại khu nhà trọ của ông Nguyễn Tuấn Nguyên thuộc khu Mao Dộc, phường Phượng Mao, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh Công an thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh phối hợp với Công an phường Phượng Mao bắt quả tang Nông Văn M có hành vi bán trái phép 0,1124 gam ma túy Heroin cho Lềm Văn D lấy số tiền 200.000 đồng. Như vậy M phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi bán trái phép chất ma túy, D mua ma túy của M với mục đích để sử dụng cho bản thân nên phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ trái phép 0,1124 gam ma túy Heroine. Như vậy, thấy đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của Nông Văn M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và Lềm Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo M và bị cáo D là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội. Tệ nạn ma tuý làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế, xã hội của Nhà nước; việc đấu tranh với các tội phạm về ma tuý hiện nay là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách để bài trừ tệ nạn này. Bất chấp sự ngăn cấm của pháp luật, các bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của các bị cáo đã tiếp tay làm gia tăng tệ nạn ma tuý trên địa bàn thị xã Quế Võ. Chính vì vậy phải đưa ra xét xử các bị cáo kịp thời và có hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo M và bị cáo D thì thấy: Cả hai bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tại cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay bị cáo M và bị cáo D đã có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; Cả hai bị cáo là người dân tộc thiểu số, ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên cả hai bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho hai bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo M và bị cáo D có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với hai bị cáo.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho M. Quá trình điều tra M không biết họ tên, tuổi và địa chỉ của người đàn ông đó nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Quế Võ tiếp tục điều tra xác minh, khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau.
Đối với Nguyễn Trung Đ là người đi cùng D đến gặp M. Quá trình điều tra xác định Đ không biết D đến gặp M để mua ma túy nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Quế Võ không xử lý là phù hợp.
Về xử lý vật chứng của vụ án: mẫu vật còn lại sau giám định trong phong bì thư có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh là vật cấm nên cần tịch thu tiêu huỷ. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 200.000 đồng.
Về án phí: Bị cáo M và bị cáo D là dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; Bị cáo Lềm Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 136, Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Xử phạt: Nông Văn M 26 (Hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/04/2023. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 136, Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Xử phạt: Lềm Văn D 12 (M hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/04/2023. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ số mẫu vật còn lại sau giám định trong phong bì thư có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 200.000 đồng. (Theo biên bản giao vật chứng ngày 19/06/2023 và biên lai thu tiền ngày 20/06/2023 giữa Công an thị xã Quế Võ với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quế Võ).
Về án phí: Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho cả hai bị cáo.
Các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh; - VKS, CA, Chi cục THADS thị xã Quế Võ; - VKS, Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh; - Bị cáo và người tham gia tố tụng khác; - Trại tạm giam CA tỉnh Bắc Ninh; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Đắc Dũng |