vanban.org

Bản án 142/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 27/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Phạm Văn M1 phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Phạm Văn M1 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bị bắt giữ 31/5/2023. Tuyên bố: bị cáo Mai Tiến T2 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn M1 phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Phạm Văn M1 phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TH3NH PHỐ CẨM PHẢ
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 142/2023/HS-ST
Ngày: 27 - 9 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TH3NH PHỐ CẨM PHẢ - TỈNH QUẢNG NINH

TH3nh phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Chính Nghĩa.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lại Văn Bảo.

Bà Lê Thị Thanh Thủy.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Huệ - Thư ký tòa án nhân dân tH3nh phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tH3nh phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh Loan - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 9 năm 2023 tại phòng xử án Tòa án nhân dân tH3nh phố Cẩm Phả xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 114/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2023/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 9 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Phạm Văn M1; tên gọi khác: không; sinh ngày: xx/xx/19xx, tại tH3nh phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: tổ x, khu 1A, phường T1, tH3nh phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/10; con ông: Phạm Văn T2 (đã chết) và bà: Nguyễn Thị L1; vợ và con: không; tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: - Năm 2008, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, TAND thị xã Cẩm Phả, (nay là tH3nh phố Cẩm Phả) xử phạt 24 tháng tù. Ngày 16/12/2010 chấp H3nh xong bản án.

- Năm 2012, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, TAND tH3nh phố Cẩm Phả xử phạt 30 tháng tù. Ngày 03/11/2014 chấp H3nh xong bản án.

- Năm 2017, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, TAND tH3nh phố Cẩm Phả xử phạt 18 tháng tù. Ngày 20/4/2018 chấp H3nh xong bản án.

Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 31/5/2023, hiện tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh - có mặt.

2. Họ và tên: Mai Tiến T2; tên gọi khác: không; sinh ngày: xx/xx/19xx, tại tH3nh phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú và chỗ ở: tổ xx, khu xx, phường P1, tH3nh phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; con ông: Mai Anh T3 và bà: Nguyễn Thị D1; vợ và con: không; tiền án: năm 2021, bị Tòa án nhân dân tH3nh phố Cẩm Phả xử phạt 15 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", ngày 16/9/2022 chấp H3nh xong bản án; tiền sự: không; nhân thân: năm 2017, bị Tòa án nhân dân tH3nh phố Cẩm Phả xử phạt 15 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", ngày 19/9/2018 chấp H3nh xong bản án.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 31/5/2023, hiện tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh - có mặt.

3. Họ và tên: Đỗ Anh D2; tên gọi khác: không; sinh ngày: xx/x/19x, tại tH3nh phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: tổ x, khu x, phường T3, tH3nh phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; con ông: Đỗ Anh T3 và bà: Phạm Thị M2; đã ly hôn vợ; có 02 con: con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2015 ; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 31/5/2023, hiện tạm giam tại nH3 tạm giữ Công an tH3nh phố Cẩm Phả - có mặt.

Người chứng kiến: Nguyễn Văn Đ1, Trịnh Thanh H3 (đều vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Đỗ Anh D2, Mai Tiến T2 là bạn xã hội và đều sử dụng ma túy. Ngày 31/5/2023, T1 rủ D2 mua ma túy về sử dụng, D2 đồng ý. T1 đưa cho D2 500.000 đồng. Khoảng 11 giờ cùng ngày, D2 dùng điện thoại của mình gọi điện qua ứng dụng mạng xã hội Zalo hỏi Phạm Văn M1 mua ma túy và hẹn giao dịch tại ngách 19 ngõ 344 đường Trần Phú, phường T1, tH3nh phố Cẩm Phả. Sau đó, D2 điều khiển xe mô tô biển số 14P6-9325, chở T1 đến đầu ngõ thì T1 đứng ngoài còn D2 đi vào trong ngõ khoảng 100 m đưa cho M1 01 (một) tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, M1 cầm tiền và đưa lại cho D2 01 (một) bọc giấy vệ sinh màu trắng bên trong có 03 (ba) gói giấy bạc đều chứa ma túy Heroine. Giao dịch xong, D2 cầm ma túy ra ngoài ngõ bảo với T1 đã mua được, rồi chở T1 cùng đi tìm chỗ sử dụng. Hồi 11 giờ 45 phút cùng ngày khi đi đến khu vực đường dân sinh thuộc tổ 8, khu 4A, phường T1, tH3nh phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, T1 và D2 bị Công an tH3nh phố Cẩm Phả bắt quả tang.

Thu giữ trên tay phải của Đỗ Anh D2 01 (một) gói giấy vệ sinh, đựng ba gói giấy bạc màu trắng bên trong đều chứa chất bột màu trắng. Ngoài ra còn thu giữ của D2: 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone, vỏ màu vàng, lắp sim số 0962063101; 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha biển số 14P6-9325, đã qua sử dụng. Kiểm tra không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì của Mai Tiến T2.

Kết luận giám định số 721/KL-KTHS ngày 07/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: chất bột màu trắng trong 03 (ba) gói giấy bạc màu trắng trong phong bì niêm phong vật chứng thu giữ của Đỗ Anh D2 và Mai Tiến T2 ngày 31/5/2023 là ma túy Heroine, có tổng khối lượng là 0,127 gam.

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tH3nh phố Cẩm Phả đã tiến H3nh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp và khám xét chỗ ở của Phạm Văn M1, thu giữ: trên giường ngủ của M1 01 (một) điện thoại Samsung vỏ màu đen, lắp 01 (một) sim số 0375438433; 01 (một) tờ tiền mệnh giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng). M1 thừa nhận đó là tiền bán ma túy cho D2.

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Văn M1, Đỗ Anh D2 và Mai Tiến T2 đều khai nhận H3nh vi phạm tội của mình như nội dung trên.

Người chứng kiến Nguyễn Văn Đ1, Trịnh Thanh H3 đều có các lời khai chứng kiến việc Công an kiểm tra, bắt giữ nam thanh niên tàng trữ ma túy và thu giữ vật chứng. Anh Trịnh Thanh H3 khai: vào khoảng 11 giờ 45 phút ngày 31/5/2023, khi anh đang đi làm về qua khu vực thuộc tổ 8, khu 4A, phường T1, tH3nh phố Cẩm Phả thì thấy lực lượng Công an kiểm tra, bắt giữ hai người đàn ông đi xe máy. Anh đến gần xem thì nghe thấy 02 người đàn ông này khai nhận lần lượt tên là Đỗ Anh D2, sinh năm 1981, nơi thường trú tại tổ 2, khu Tân lập 5, phường T3, tH3nh phố Cẩm Phả và Mai Tiến T2, sinh năm 1984, nơi thường trú: tổ 97, khu 8A, phường P1, tH3nh phố Cẩm Phả. Anh chứng kiến Công an thu giữ trên tay phải của Đỗ Anh D2 đang cầm 01 gói giấy vệ sinh màu trắng, đựng 03 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng, D2 và T1 khai nhận với Công an chất bột màu trắng là ma túy Heroine do T1 là người đưa tiền cho D2 đi mua về để cả hai cùng sử dụng; thu giữ tại túi quần bên phải Đỗ Anh D2 đang mặc: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ màu vàng, tạm giữ của D2 01 xe máy nhãn hiệu HonDa Wave Alpha biển số 14P6- 9325. Anh không thấy Công an thu giữ gì của Mai Tiến T2. Sau đó, Công an đưa D2, T1 và mời anh về trụ sở làm việc.

Bản cáo trạng số 123/CT - VKSCP ngày 11/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tH3nh phố Cẩm Phả truy tố bị cáo Phạm Văn M1 về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và truy tố các bị cáo: Mai Tiến T2 và Đỗ Anh D2 về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự;

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tH3nh phố Cẩm Phả đưa ra những chứng cứ, chứng minh H3nh vi phạm tội của các bị cáo và giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung cáo trạng. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tH3nh phố Cẩm Phả đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt Phạm Văn M1 từ 30 (ba mươi) tháng tù đến 33 (ba mươi ba) tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt giữ 31/5/2023; Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Mai Tiến T2 từ 15 (mười lăm) tháng tù đến 18 (mười tám) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt giữ 31/5/2023. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Anh D2 từ 12 (mười hai) tháng tù đến 15 (mười lăm) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt giữ 31/5/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền với cả 03 bị cáo.

Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: đề nghị tịch thu nộp ngân sách NH3 nước 02 chiếc điện thoại di động Sam sung và Iphone cùng số tiền 500.000 đồng; tịch thu tiêu hủy 02 chiếc sim điện thoại gắn với chiếc điện thoại Sam sung và Iphone vì không có giá trị sử dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về H3nh vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về H3nh vi, quyết định của cơ quan tiến H3nh tố tụng, người tiến H3nh tố tụng. Do đó, các H3nh vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến H3nh tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về H3nh vi phạm tội của các bị cáo: tại Cơ quan điều tra và phiên toà cả 03 bị cáo Phạm Văn M1, Mai Tiến T2, Đỗ Anh D2 khai nhận toàn bộ H3nh vi vi phạm pháp luật như Viện kiểm sát nhân dân tH3nh phố Cẩm Phả đã truy tố.

Các bị cáo thừa nhận việc bị khởi tố, truy tố và đưa ra xét xử là đúng, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với biên bản khám xét, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; phù hợp với kết luận giám định số: 721/KL-KTHS ngày 07/6/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh về khối lượng ma túy bị thu giữ; phù hợp với lời khai của những người chứng kiến là các anh Nguyễn Văn Đ1, Trịnh Thanh H3 đã chứng kiến việc Công an kiểm tra bắt giữ bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy và thu toàn bộ vật chứng; phù hợp với các tài liệu và chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án.

Từ những căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận: khoảng 11 giờ ngày 31/5/2023, tại ngách 19 ngõ 344 đường Trần Phú, phường T1, tH3nh phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, Phạm Văn M1 có H3nh vi bán trái phép 0,127 gam ma túy, loại Heroine với giá 500.000đ cho Đỗ Anh D2.

Hồi 11 giờ 45 phút cùng ngày, tại tổ 8, khu 4A, phường T1, tH3nh phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, Mai Tiến T2 và Đỗ Anh D2 có H3nh vi tàng trữ trái phép 0,127 gam ma túy, loại Heroine nêu trên, mục đích để sử dụng, thì bị Công an tH3nh phố Cẩm Phả bắt quả tang.

H3nh vi của Phạm Văn M1 đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

H3nh vi của Mai Tiến T2 và Đỗ Anh D2 đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

H3nh vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới sự độc quyền quản lý, kiểm soát các chất ma túy của NH3 nước, gây mất trật tự trị an ở địa phương và tiếp tay cho các đường dây mua bán trái phép chất ma túy; ma túy là tệ nạn xã hội, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, gây bất bình trong quần chúng nhân dân nên cần phải xử lý nghiêm để giáo giục và răn đe.

Bị cáo Phạm Văn M1 là người có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xử phạt tù về H3nh vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng không chịu hướng thiện nên cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc. Bị cáo Mai Tiến T2 và Đỗ Anh D2 phạm tội với vai trò đồng phạm. Xét vai trò đồng phạm của T1 và D2 thấy rằng: T1 là người rủ rê và đưa tiền cho D2 đi mua ma túy về sử dụng. D2 là người giao dịch với M1 để mua ma túy cho cả hai sử dụng nên vai trò của hai bị cáo là ngang nhau.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Mai Tiến T2 có tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” năm 2021 chưa được xóa án tích nay lại phạm tội nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, cả 03 bị cáo có thái độ khai báo tH3nh khẩn, ăn năn hối cải nên được xem xét giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Phạm Văn M1 có bố đẻ và mẹ đẻ đều được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng III nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: các bị cáo có nghề nghiệp không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền với cả 03 bị cáo.

Về vật chứng: chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung, màu đen thu giữ của Phạm Văn M1 và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng thu giữ của Đỗ Anh D2 được xác định dùng để liên lạc trong hoạt động mua bán trái phép chất ma túy nên tịch thu nộp ngân sách NH3 nước; Số tiền 500.000 đồng thu giữ của bị cáo Phạm Văn M1 là tiền do phạm tội mà có nên tịch thu nộp ngân sách NH3 nước; 02 chiếc sim điện thoại gắn với 02 chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo M1 và D2 không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha biển số 14P6-9325 tạm giữ của D2 trong quá trình bắt quả tang, cơ quan điều tra chưa xác minh được chủ sở hữu hợp pháp nên đã tách để tiếp tục điều tra, xử lý sau nên không đề cập; Chiếc USB chứa dữ liệu hỏi cung Mai Tiến T2 lưu tại Hồ sơ vụ án làm căn cứ.

Về án phí: các bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Đối với người phụ nữ, theo Phạm Văn M1 khai đã bán ma túy cho M1, do không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên không đủ căn cứ làm rõ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố: bị cáo Phạm Văn M1 phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Phạm Văn M1 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bị bắt giữ 31/5/2023.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố: bị cáo Mai Tiến T2 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Mai Tiến T2 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt giữ 31/5/2023.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố: bị cáo Đỗ Anh D2 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Đỗ Anh D2 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bị bắt giữ 31/5/2023.

Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu nộp ngân sách NH3 nước 02 (hai) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung màu đen và Iphone màu vàng cùng số tiền 500.000 đồng; tịch thu tiêu hủy 02 (hai) sim điện thoại có các dãy số: 8984, 04800, 03800, 86596 và 8984, 04800, 03800, 51479.

Tình trạng vật chứng được xử lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 170/BB - THA ngày 14 tháng 9 năm 2023 tại chi cục Thi H3nh án dân sự tH3nh phố Cẩm Phả.

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Phạm Văn M1, Mai Tiến T2, Đỗ Anh D2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm;

Áp dụng khoản 1, khoản 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ