vanban.org

Bản án 142/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 01/11/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 01/11/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương Thị M;

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2023/HS-ST ngày 24 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh. Xử phạt bị cáo Dương Thị M 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt các bị cáo đi chấp hành án (được khấu trừ thời gian t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương Thị M;
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 142/2023/HS-PT
Ngày: 01-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Ngầu.

Các thẩm phán: 1. Ông Nguyễn Quốc Tuấn;

2. Ông Nguyễn Văn Bình.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Phước Hậu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu tham gia phiên tòa: Ông Lê Hồng Phúc – Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 134/2023/TLPT-HS ngày 09 tháng 10 năm 2023, do có kháng cáo của bị cáo Dương Thị M đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2023/HS-ST ngày 24 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Dương Thị M, sinh năm: 1972, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp B, xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Cao đài; con ông Dương Văn C, sinh năm 1934 (đã chết) và bà Lưu Thị C1, sinh năm 1934 (đã chết); chồng: Nguyễn Văn X, sinh năm 1971 (đã ly hôn); con: không có; tiền sự: không có; tiền án: có 01 tiền án (Bản án số 78/2010/HSST ngày 29/7/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh xử phạt Dương Thị M số tiền 7.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”, án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng; bị cáo chưa chấp hành xong bản án). Bị cáo bị tạm giữ ngày 19-12-2022, đến ngày 28-12-2022. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

Ngoài ra, bản án còn xét xử đối với 09 bị cáo khác về tội “Đánh bạc”, tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” và những người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo, kháng nghị, nên Toà án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 19-12-2022, Nguyễn Thị Kim L sử dụng địa điểm là căn nhà đang thuê để ở và bán cơm cho công nhân thuộc ấp B, xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh, đồng thời cung cấp bài tây cho 09 bị cáo khác tham gia đánh bài binh bửu thắng, thua bằng tiền nhằm thu lợi bất chính từ việc thu tiền xâu. Cụ thể những người tham gia đánh bạc gồm: Trần Diệp T, Trương Thị T1, Dương Thân Nam T2, Trần Thị Thu M1, Nguyễn Thị H, Trương Thị Đ, Võ Thành T3, Dương Thị M và Phan Kim Q. L và những người tham gia đánh bạc thỏa thuận mỗi khi hết lượt làm cái, nếu người làm cái thắng sẽ trả tiền xâu cho L số tiền 50.000 đồng, còn nếu thua thì không trả tiền xâu. Quá trình làm cái, M1 đã trả tiền xâu cho L 01 lần với số tiền là 50.000 đồng. Sòng bạc chơi đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, thì bị lực lượng Công an Huyện D kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang thu giữ số tiền trên chiếu bạc 450.000 đồng, 01 cái mền, 01 cái rổ màu đỏ và 52 lá bài tây.

Ngoài ra, còn tạm giữ của L và những người tham gia đánh bạc số tiền cụ thể như sau: của Nguyễn Thị Kim L số tiền 830.000 đồng; của Trần Diệp T số tiền 2.800.000 đồng; của Trương Thị T1 số tiền 1.100.000 đồng; của Dương Thân Nam T2 số tiền 630.000 đồng; của Trần Thị Thu M1 số tiền 300.000 đồng; của Nguyễn Thị H số tiền 3.900.000 đồng; của Trương Thị Đ số tiền 1.300.000 đồng; của Võ Thành T3 số tiền 5.350.000 đồng; của Dương Thị M số tiền 950.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định được số tiền của từng bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc trái phép thắng, thua bằng tiền vào ngày 19-12-2022, cụ thể như sau:

+ Số tiền 830.000 đồng của Nguyễn Thị Kim L, trong đó có 50.000 đồng là tiền xâu L đã thu được; số tiền còn lại có 300.000 đồng là tiền M1 trả cho L, 480.000 đồng là tiền riêng của L không liên quan đến việc đánh bạc.

+ Trần Diệp T: mang theo số tiền 2.900.000 đồng đề đánh bạc, tham gia đánh bạc tổng cộng 08 ván; mỗi ván đặt số tiền 50.000 đồng. Kết quả, thua 100.000 đồng, bị tạm giữ số tiền 2.800.000 đồng.

+ Trương Thị T1 mang theo số tiền 900.000 đồng để đánh bạc. Tưởng làm cái 02 ván và quy định cho những người tham gia đánh bạc đặt tụ mỗi ván với số tiền từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng; tham gia đặt tụ 10 ván, mỗi ván đặt số tiền 50.000 đồng. Kết quả, thắng được 200.000 đồng; bị tạm giữ số tiền 1.100.000 đồng.

+ Dương Thân Nam T2: mang theo số tiền 730.000 đồng để đánh bạc; T2 không trực tiếp đặt tụ mà hùn đặt vào tụ bài của Tưởng 06 ván, mỗi ván đặt số tiền 50.000 đồng. Kết quả, thua số tiền 100.000 đồng, bị tạm giữ số tiền 630.000 đồng.

+ Nguyễn Thị H: mang theo số tiền 4.200.000 đồng để đánh bạc. H làm cái 04 ván và quy định cho những người tham gia đánh bạc đặt mỗi ván với số tiền từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng; tham gia đặt tụ 06 ván, mỗi ván đặt số tiền từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng. Kết quả, thua 300.000 đồng, bị tạm giữ số tiền 3.900.000 đồng.

+ Trương Thị Đ: mang theo số tiền 1.300.000 đồng để đánh bạc, tham gia đặt tụ 04 ván, mỗi ván đặt số tiền 50.000 đồng. Kết quả, không thắng, không thua, bị tạm giữ số tiền 1.300.000 đồng.

+ Võ Thành T3: mang theo số tiền 5.350.000 đồng và sử dụng số tiền 850.000 đồng để tham gia đánh bạc. Thơ làm cái 04 ván và quy định cho những người tham gia đánh bạc đặt tụ mỗi ván với số tiền từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng. Kết quả, không thắng, không thua, bị tạm giữ số tiền 5.350.000 đồng, trong đó số tiền 850.000 đồng là tiền dùng đánh bạc và số tiền 4.500.000 đồng là tiền không dùng để đánh bạc.

+ Dương Thị M: mang theo số tiền 1.200.000 đồng để đánh bạc. Mộng làm cái 02 ván và quy định cho những người tham gia đánh bạc đặt tụ mỗi ván với số tiền từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng; tham gia đặt tụ 06 ván, mỗi ván đặt tụ số tiền 50.000 đồng. Kết quả, thua số tiền 250.000 đồng, bị tạm giữ số tiền 950.000 đồng.

+ Phan Kim Q: mang theo số tiền 100.000 đồng để đánh bạc, tham gia đặt tụ 02 ván, mỗi ván đặt số tiền 50.000 đồng. Kết quả, thua hết số tiền 100.000 đồng nên không tham gia đánh bạc nữa mà đứng cạnh sòng bạc để xem những người khác tham gia đánh bạc đến khi bị bắt quả tang.

+ Trần Thị Thu M1: mang theo số tiền 500.000 đồng để đánh bạc. Mến làm cái 02 ván và quy định cho những người tham gia đánh bạc đặt mỗi ván với số tiền từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng; tham gia đặt tụ 11 ván, mỗi ván đặt số tiền 50.000 đồng. Kết quả, thắng được số tiền 150.000 đồng, bị tạm giữ số tiền 300.000 đồng.

* Kết quả kê biên tài sản:

- Kê biên tài sản của bị cáo Trần Diệp T quyền sử dụng thửa đất số 209, tờ bản đồ số 18, diện tích đất là 189m2 tại xã S, huyện D, tỉnh Tây Ninh.

- Kê biên tài sản của bị cáo Dương Thị M quyền sử dụng thửa đất số 7373, tờ bản đồ số 03, diện tích đất là 3848m2 tại xã P, huyện D, tỉnh Tây Nin.

- Kê biên tài sản của bị cáo Nguyễn Thị H quyền sử dụng thửa đất số 24, tờ bản đồ số 41, diện tích đất là 1690m2 và thử đất số 69, tờ bản đồ số 42, diện tích đất là 1382,5m2 tại xã C, huyện D, tỉnh Tây Ninh.

- Bị cáo Dương Thân Nam T2 có tài sản là quyền sử dụng thửa đất số 153, tờ bản đồ số 13, diện tích đất là 9237,2m2 tại xã C, huyện D, tỉnh Tây Ninh nhưng đã thế chấp vay tiền ngân hàng không tiến hành kê biên.

- Các bị cáo Nguyễn Thị Kim L, Trương Thị T1, Trương Thị Đ, Võ Thành T3, Phan Kim Q và Trần Thị Thu M1 không có tài sản riêng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D không tiến hành kê biên tài sản đối với các bị cáo nêu trên.

Tại Cáo trạng số 41/CT-VKS-DMC ngày 26 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Kim L, Trần Diệp T, Trương Thị T1, Dương Thân Nam T2, Nguyễn Thị H, Trương Thị Đ, Võ Thành T3, Dương Thị M, Phan Kim Q và Trần Thị Thu M1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự; ngoài ra còn truy tố bị cáo Nguyễn Thị Kim L về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2023/HS-ST ngày 24 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Dương Thị M phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Dương Thị M 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án (được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 19-12-2022 đến ngày 28-12-2022)

Ngoài ra, bản án còn tuyên xử 09 bị cáo khác về tội “Đánh bạc” và tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, tuyên xử về xử lý vật chứng, quyền kháng cáo, … theo quy định của pháp luật.

Ngày 31-8-2023, bị cáo Dương Thị M có đơn kháng cáo xin được miễn chấp hành hình phạt tù hoặc được hưởng án treo hoặc hình phạt tiền. Với các lý do: hoàn cảnh gia đình neo đơn, cha mẹ mất hết, chồng đã ly hôn, không có con.

Tại phiên toà:

- Bị cáo Dương Thị M giữ nguyên nội dung kháng cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến: bị cáo có 01 tiền án về tội đánh bạc, chưa được xoá án tích, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc trái phép, điều này thể hiện bị cáo xem thường pháp luật. Mức hình phạt 06 tháng tù cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội bị cáo gây ra, không nặng. Bị cáo kháng cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương Thị M, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Bị cáo Dương Thị M không tranh uận:

Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo biết hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt cho bị cáo, vì hoàn cảnh gia đình neo đơn, cha mẹ mất hết, không có con, bản thân bị bệnh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử vụ án và tuyên án vào ngày 24-8-2023; ngày 31-8-2023, bị cáo M kháng cáo; đơn kháng cáo của bị cáo M hợp lệ, phù hợp với quy định tại Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố và người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm.

Trong quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố và người tiến hành tố tụng đều được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện:

Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 19-12-2022, Nguyễn Thị Kim L sử dụng địa điểm là căn nhà đang thuê để ở và bán cơm thuộc ấp B, xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh cho M cùng 08 bị cáo khác gồm: Trần Diệp T, Trương Thị T1, Dương Thân Nam T2, Trần Thị Thu M1, Nguyễn Thị H, Trương Thị Đ, Võ Thành T3 và Phan Kim Q tham gia đánh bài binh bửu thắng, thua bằng tiền nhằm thu lợi bất chính từ việc thu tiền xâu thì bị bắt quả tang. Tổng số tiền M cùng 08 bị cáo khác sử dụng vào mục đích đánh bạc là 13.380.000 đồng: gồm tiền thu giữ trên người các bị cáo là 12.930.000 đồng, tiền thu trên chiếu bạc 450.000 đồng.

Do đó, Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Dương Thị M và ngững người cùng chơi đánh bạc trái phép với M về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo Dương Thị M.

Bị cáo M sử dụng 1.200.000 đồng để đánh bạc; Mộng làm cái 02 ván và tham gia đặt tụ 06 ván, mỗi ván đặt tụ số tiền 50.000 đồng; kết quả, M thua số tiền 250.000 đồng. Bị cáo có nhân thân không tốt, có 01 tiền án, bị Toà án nhân dân thị xã Tây Ninh (nay là thành phố T), tỉnh Tây Ninh xử phạt 7.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” vào ngày 29-7-2010, bị cáo chưa chấp hành. Điều này thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo rất hạn chế, do đó lần phạm tội này cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, mới đủ kiều kiện để bị cáo cải tạo thành người công dân tốt, có ích cho xã hội, đồng thời mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Mức hình phạt 06 tháng tù, cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, không nặng.

Bị cáo kháng cáo, không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Từ những phân tích trên, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương Thị M; chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận, nên bị cáo M phải chịu.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Dương Thị M;

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2023/HS-ST ngày 24 tháng 8 năm 2023 của Toà án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Dương Thị M 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt các bị cáo đi chấp hành án (được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19-12-2022 đến ngày 28-12-2022)

2. Về án phí hình sự sơ thẩm: căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Dương Thị M phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ