vanban.org

Bản án 142/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 19/09/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/09/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Kim Ng.

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Đặng Thị Lệ H. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 164/2023/HS-ST ngày 07 tháng 6 năm 2023 Toà án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương về hình phạt đối với bị cáo Đặng Thị Lệ H về tội “Tổ chức đánh bạc”. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lộc Lục M. Sửa Bản á… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "321 - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Kim Ng.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 142/2023/HS-PT
Ngày 19-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Đức

Các Thẩm phán: Ông Trương Văn Lộc

Ông Lê Quân Vương

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Huyền Ng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Tấn Lập - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 13 và ngày 19 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 137/2023/TLPT-HS ngày 27 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo Đặng Thị Lệ H và các bị cáo khác. Do có kháng cáo của bị cáo Đặng Thị Lệ H, Lộc Lục M, Đặng Kim Ng đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 164/2023/HS-ST ngày 07 tháng 6 năm 2023 Toà án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương.

- Các bị cáo có kháng cáo:

1. Đặng Thị Lệ H (tên gọi khác: M10) sinh năm 1993 tại tỉnh Long An; nơi đăng ký thường trú: xã P, huyện C, tỉnh Long An; nơi đăng ký tạm trú: phường H, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 6/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nữ; con ông Đặng Ng H9 và bà Phạm Thị C9; có chồng tên Nguyễn Văn N9 (đã ly hôn) và có 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/10/2022 đến ngày 02/12/2022; ngày 23/01/2023, được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt.

2. Lộc Lục M (tên gọi khác: M9) sinh năm 1990 tại tỉnh Đồng Nai; nơi đăng ký thường trú: khu phố B, phường B thành phố T, tỉnh Bình Dương; nơi đăng ký tạm trú:chung cư , phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: nội trợ; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Hoa; tôn giáo: không; giới tính: Nữ; con ông Lộc Cún P8 và bà Vòng Thị K9; có chồng tên Hồng Cóc P9 (đã ly hôn) và có 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/10/2022 đến ngày 18/11/2022; ngày 23/01/2023 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay, có mặt.

3. Đặng Kim Ng sinh năm 1989 tại thành phố Cần Thơ; nơi cư trú: thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; giới tính: Nữ; con ông Đặng Nguyên H7 và bà Đặng Thị Ng H7; có chồng tên Nguyễn Đức C7và có 01 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân:, bị Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương xử phạt 60.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 84A/2023/HSST ngày 24/3/2023. Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/11/2022 cho đến nay, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Ngoài ra, còn triệu tập các bị cáo không kháng cáo Nồng Quay V, Trình Bảo C, Hoàng Trọng H1, Nguyễn Thị Bảo Tr1, Đỗ Kim H3; không triệu tập 02 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có kháng cáo, không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 26/10/2019, Chi nhánh Công ty TNHH thương mại dịch vụ PT tại Bình Dương ký hợp đồng số L3-10/2019/HDT/TTTM-VCP DI AN, BINH DUONG với Công ty cổ phần Vincom Retail – Chi nhánh tại tỉnh Bình Dương về việc thuê mặt bằng tại tầng 3, tòa nhà Trung tâm thương mại Vincom thuộc khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương để kinh doanh khu trò chơi điện tử Chú Voi Con. Tại đây, Công ty PT có đặt các máy game bắn cá để phục vụ nhu cầu giải trí của khách hàng với cam kết “không quy đổi thành tiền dưới mọi hình thức”, “nghiêm cấm nhân viên mua bán, trao đổi hoặc quy đổi thành tiền dưới mọi hình thức”. Tuy nhiên, lợi dụng sự quản lý lỏng lẻo của nhân viên tại khu trò chơi nên bị cáo Đặng Thị Lệ H cùng với Đặng Ng Phú H4 đã tổ chức đánh bạc dưới hình thức bán xu cho con bạc chơi game bắn cá rồi thu mua lại xu để thu lợi bất Chính từ khoản tiền chênh lệch giữa giá xu bán ra và giá xu mua vào. Hình thức là H thu mua xu từ các nhân viên tại quầy của khu game với giá 2.500 đồng/01 xu, tích hợp xu thành điểm vào các thẻ từ bằng nhựa theo công thức 1 xu = 5 điểm = 2.500 đồng, sau đó H rủ rê các con bạc đến chơi game bắn cá. Lúc này, con bạc không mua xu tại quầy mà gặp H để mua với giá 2.500 đồng/01 xu (bằng với giá do quầy bán ra), H dùng thẻ từ có tích hợp xu để nạp điểm vào các hộc (ô) tại vị trí con bạc ngồi chơi theo số tiền mà con bạc thỏa thuận mua.

Sau khi có điểm, các con bạc ngồi vào 08 hộc trên máy game bắn cá, dùng tay điều khiển súng bằng các nút trên máy, nhấn nút bắn đạn (các loại đạn từ 1 điểm đến 200 điểm) vào các con cá ảo đang bơi trên màn hình của máy. Nếu bắn trúng làm cá chết thì được cộng điểm, nhân điểm, nếu bắn hụt hoặc không chết cá thì bị mất đạn (mất điểm). Trong quá trình con bạc chơi, các bị cáo H và H4 trông coi con bạc để nạp thêm điểm, mua thức ăn, nước uống phục vụ con bạc và tính toán tiền thắng thua. Sau khi kết thúc buổi chơi, nếu con bạc thua hết điểm thì thanh toán tiền đã dùng mua xu trong quá trình chơi cho H, nếu con bạc thắng điểm thì quy đổi thành xu lại cho H theo công thức 1 xu = 5 điểm = 2.300 đồng. H hưởng chênh lệch 200 đồng/xu. H đã tổ chức từ ngày 19/10/2022 đến ngày 26/10/2022 thì bị phát hiện. Quá trình điều tra xác định được hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc cụ thể như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 19/10/2022, Đặng Kim Ng đến khu trò chơi và mua của H 6.000 xu là 15.000.000 đồng, được nạp 30.000 điểm. Quá trình chơi, Ng thua hết điểm nên nghỉ. Tiền sử dụng đánh bạc của Ng trong ngày 19/10/2022 là 15.000.000 đồng. Khoảng 13 giờ ngày 20/10/2022, Ng tiếp tục đến khu trò chơi và mua của H 4.000 xu là 10.000.000 đồng, được nạp 20.000 điểm. Quá trình chơi, Ng thắng được thêm 87 xu là 200.100 đồng thì nghỉ. Tiền sử dụng đánh bạc của Ng trong ngày 20/10/2022 là 10.200.100 đồng. Ng và H đã thanh toán tiền thắng thua cho nhau vào 02 ngày 19/10/2022 và 20/10/2022. Đến ngày 26/10/2022, Ng đến Công an thành phố D đầu thú về hành vi phạm tội của mình.

Khoảng 12 giờ ngày 26/10/2022, Đặng Thị Lệ H, Đặng Ng Phú H4 đến khu trò chơi Chú Voi Con, sau đó Lộc Lục M, Nồng Quay V, Trình Bảo C, Đặng Kim Ng, Dương Thọ Ph, Hoàng Trọng H1, Nguyễn Thị Bảo Tr1, Đỗ Kim H3 đến chơi game bắn cá thắng thua bằng tiền. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, Đội Cảnh sát Hình sự Công an thành phố D bắt quả tang (riêng Đặng Kim Ng và Dương Thọ Ph đầu thú). Khi bắt quả tang ghi nhận số điểm hiển thị tại các ô như sau: ô 1P: 49851 điểm; ô 2P: 9530 điểm; ô 3P: 80980 điểm; ô 4P: 1239 điểm; ô 5P: 4040 điểm; ô 6P: 50032 điểm; ô 7P: 26174 điểm; ô 8P: 7845 điểm. Thu giữ tại vị trí của Lộc Lục M thẻ từ số 65789, bên trong có 1490 xu, thu giữ trong túi của Đặng Thị Lệ H thẻ từ số 54212, bên trong có 10.000 xu và thẻ từ số 54295, bên trong có 5000 xu; thu giữ trong túi của Đặng Ng Phú H4 10 thẻ từ bên trong không còn xu và số tiền 5.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, xác định được hành vi cụ thể của các bị cáo như sau:

1/ Đặng Thị Lệ H: Khoảng 12 giờ ngày 26/10/2022, cùng với anh ruột là Đặng Ng Phú H4 đến khu trò chơi Chú Voi Con với mục đích chờ các con bạc đến để tổ chức bán xu, đổi xu thành tiền cho các con bạc chơi game bắn cá. H mang theo số tiền 5.000.000 đồng sử dụng đánh bạc và 13 thẻ từ bằng nhựa có tích hợp xu thành điểm, đưa cho H4 cất giữ. Khi bị bắt quả tang, H bị thu giữ 02 thẻ từ (01 thẻ còn 1000 xu và 01 thẻ còn 5.006 xu) và 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím gắn sim số 0767637xxx sử dụng làm phương tiện phạm tội.

Trong ngày 26/10/2022, H đã bán được 28.000 xu, tương ứng số tiền 70.000.000 đồng nhưng chưa nhận được tiền từ con bạc thì bị bắt.

2/ Đặng Ng Phú H4: Là anh ruột của H, được H nhờ phụ giúp trong việc giữ thẻ từ, giữ tiền đánh bạc, nạp xu, đổi điểm, thu mua xu, mua thức ăn nước uống phục vụ con bạc vào ngày 26/10/2022. H4 được H trả công từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng. Khi bị bắt quả tang, H4 bị thu giữ 10 thẻ từ đã hết điểm và số tiền 5.000.000 đồng là tiền sử dụng đánh bạc do H đưa.

3/ Lộc Lục M mang theo số tiền 10.000.000 đồng sử dụng hết để đánh bạc. M thỏa thuận với H mua lần đầu 2.000 xu là 5.000.000 đồng, được 10.000 điểm và ngồi ở hộc 3P để chơi đến khi hết điểm thì mua tiếp 2.000 xu là 5.000.000 đồng. Lúc này, Dương Thọ Ph nạp dùm M 510 xu vào hộc nên trong thẻ từ còn lại 1.490 xu chưa nạp. Tổng số xu M nạp là: 2.000 xu + 510 xu = 2.510 tương đương 12.550 điểm. Khi bị bắt quả tang, tại ô 3P của M có 80.980 điểm. Do vậy, M thắng được số điểm là: 80.980 điểm – 12.550 điểm = 68.430 điểm. Đổi thành tiền là: (68.430 điểm : 5 điểm/xu) x 2.300 đồng/xu = 31.477.800 đồng.

Tổng số tiền sử dụng đánh bạc của M là: 31.477.800 đồng + 10.000.000 đồng = 41.477.800 đồng. Công an thu giữ của M 10.000.000 đồng là và 01 thẻ từ còn 1.490 xu (7.450 điểm).

4/ Trình Bảo C mang theo số tiền 3.500.000 đồng, sử dụng hết để đánh bạc. C thỏa thuận mua của H 3000 xu là 7.500.000 đồng nhưng chưa thanh toán. H4 là người dùng thẻ từ nạp 15.000 điểm vào hộc 4P cho C chơi bắn cá. Khi Công an bắt quả tang, tại hộc 4P hiển thị 1.239 điểm nên C thua: 15.000 điểm – 1.239 điểm = 13.761 điểm.

Tiền sử dụng đánh bạc của C là 7.500.000 đồng. Công an thu giữ được 3.500.000 đồng.

5/ Nồng Quay V mang theo số tiền 5.000.000 đồng để đánh bạc. V thỏa thuận mua của H 2.000 xu là 5.000.000 đồng và được H dùng thẻ từ nạp 10.000 điểm vào hộc 7P. Quá trình chơi đến khi bị bắt quả tang, tại hộc 7P hiển thị 26.174 điểm nên V thắng được: 26.174 điểm – 10.000 điểm = 16.174 điểm. Đổi thành tiền là: (16.174 điểm : 5 điểm/xu) x 2.300 đồng/xu = 7.440.040 đồng.

Tổng số tiền sử dụng đánh bạc của V là: 5.000.000 đồng + 7.440.040 đồng = 12.440.040 đồng. Công an thu giữ của V số tiền 5.000.000 đồng.

6/ Đỗ Kim H3 không mang theo tiền nhưng thỏa thuận với H và H4 mua 8.000 xu với số tiền là 20.000.000 đồng được 40.000 điểm. Lúc này, H3 nhờ các H4, H và Ph nạp điểm vào 02 hộc 1P và 2P. Tại hộc 1P nạp 6.000 xu là 15.000.000 đồng được 30.000 điểm, tại hộc 2P nạp 2.000 xu là 5.000.000 đồng được 10.000 điểm. Khi Công an bắt quả tang, tại hộc 1P hiển thị 49.851 điểm nên H3 thắng được: 49.851 điểm – 30.000 điểm = 19.851 điểm, thành tiền là: (19.851 điểm : 5 điểm/xu) x 2.300 đồng/xu = 9.131.460 đồng. Tại hộc 2P có 9.530 điểm nên thua số điểm là: 10.000 điểm – 9.530 điểm = 470 điểm.

Tổng số tiền sử dụng đánh bạc của H3 là: 20.000.000 đồng + 9.131.460 đồng = 29.131.460 đồng; H3 không bị thu giữ tài sản gì.

7/ Nguyễn Thị Bảo Tr1 mang theo 30.000.000 đồng đi cùng với Hoàng Trọng H1 và sử dụng hết vào việc đánh bạc. Tr1 thỏa thuận với H mua tổng cộng 11.000 xu nạp vào hộc 5P cho Tr1 là 8000 xu là 20.000.000 đồng được 40.000 điểm và nạp vào hộc 6P cho H1 chơi là 3.000 xu là 7.500.000 đồng được 15.000 điểm. Khi bị bắt quả tang tại hộc 5P hiển thị 4.040 điểm nên Tr1 thua: 40.000 điểm – 4.040 = 35.960 điểm. Tiền sử dụng đánh bạc của Tr1 là: 20.000.000 đồng. Công an thu giữ của Tr1 30.000.000 đồng.

8/ Hoàng Trọng H1 không mang theo tiền, đi cùng Tr1 được Tr1 nạp cho 3.000 xu là 7.500.000 đồng được 15.000 điểm tại hộc 6P. Khi bị bắt quả tang tại hộc 6P hiển thị 50.032 điểm nên H1 thắng được: 50.032 điểm – 15.000 điểm = 35.032 điểm, thành tiền là: (35.032 điểm : 5 điểm/xu) x 2.300 đồng/xu = 16.114.720 đồng.

Tổng số tiền sử dụng đánh bạc của H1 là: 16.114.720 đồng + 7.500.000 đồng = 23.614.720 đồng; H1 không bị thu giữ tài sản gì.

9/ Dương Thọ Ph: Do không có nghề nghiệp ổn định nên Ph thường xuyên tới khu trò chơi Chú Voi Con để xem các con bạc chơi game bắn cá thắng thua bằng tiền nên biết các bị cáo Đặng Thị Lệ H, Đặng Ng Phú H4 tổ chức bán xu cho con bạc và đổi lại xu để hưởng tiền chênh lệch. Giữa Ph và H không thoả thuận về việc hỗ trợ H. Ph thường hỗ trợ cho các con bạc trong quá trình chơi như phụ giúp nạp điểm, phụ giúp điều khiển các nút bắn cá để được con bạc cho tiền công từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng. Khoảng 14 giờ ngày 26/10/2022, Ph đến khu trò chơi Chú Voi Con để hỗ trợ các bị cáo Đỗ Kim H3, Lộc Lục M nạp điểm vào các hộc để đánh bạc. Do chưa kết thúc đã bị bắt quả tang nên Ph chưa nhận được tiền công và không bị thu giữ tài sản gì.

Về vật chứng: thu giữ 53.500.000 đồng; 13 thẻ từ bằng nhựa; 01 máy game bắn cá màu vàng có dán tem của Sở văn hóa thể thao thành phố Hồ Chí Minh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím gắn sim số 0767637xxx; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu xanh gắn sim số 0933548xxx.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 164/2023/HS-ST ngày 07 tháng 6 năm 2023 Toà án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương đã quyết định:

1. Tuyên bố bị cáo Đặng Thị Lệ H phạm tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc”.

Tuyên bố các bị cáo Đặng Kim Ng và Lộc Lục M phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về áp dụng điều luật, hình phạt:

2.1 Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Thị Lệ H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Thị Lệ H 09 (chín) tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Đặng Thị Lệ H phải chấp hành chung cho 02 tội là 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (bị cáo được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/10/2022 đến ngày 02/12/2022).

2.2 Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Kim Ng 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2.3. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lộc Lục M 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (bị cáo được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/10/2022 đến ngày 18/11/2022).

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn xử phạt Nồng Quay V, Trình Bảo C, Đỗ Kim H3, Dương Thọ Ph, Nguyễn Thị Bảo Tr1 và Hoàng Trọng H1 cùng về tội “Đánh bạc” với mức hình phạt đối với bị cáo Dương Thọ Ph 07 (bảy) tháng 12 (mười hai) ngày tù; Đặng Ng Phú H4 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo; các bị cáo Nguyễn Thị Bảo Tr1, Hoàng Trọng H1, Đỗ Kim H3 mỗi bị cáo 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; các bị cáo Nồng Quay V và Trình Bảo C mỗi bị cáo số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng; xử lý vật chứng; biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 09/6/2023, bị cáo Lộc Lục M kháng cáo với nội dung xin được phạt tiền.

Ngày 09/6/2023, bị cáo Đặng Thị Lệ H kháng cáo với nội dung xin hưởng án treo.

Ngày 20/6/2023, bị cáo Đặng Kim Ng kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến: đơn kháng cáo của các bị cáo được thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật. Ngày 12/9/2023 bị cáo Đặng Kim Ng có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị cáo.

Căn cứ các lời khai của các bị cáo đều xác định bị cáo H và bị cáo H4 là anh em ruột đã câu kết rồi rủ rê, lôi kéo các con bạc đến để bán xu và mua lại xu khi các con bạc thắng bạc, quy đổi thành tiền; đồng thời còn mua giúp đồ ăn, nước uống cho các con bạc.

Ngày 19 và 20/10/2022, bị cáo H tổ chức cho bị cáo Đặng kim Ng đánh bạc mỗi lần là 15.000.000 đồng và 10.000.000 đồng do bị cáo H là người bán xu và đổi tiền thắng. Ngày 26/10/2022 H đã tổ chức đánh bạc cho các con bạc là Ng, H3, C, V, H1, Tr1. Cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử bị cáo H về tội Đánh bạc và Tổ chức đánh bạc, quy định tại khoản 1 Điều 321, khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự là đúng quy định. Xét thấy, Tòa cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc và 09 (chín) tháng tù về tội Đánh bạc là phù hợp. Bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo nhưng không cung cấp thêm tình tiết mới nên không có căn cứ xét kháng cáo của bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đối với kháng cáo của bị cáo Lộc Lục M: Bị cáo sử dụng số tiền dùng đánh bạc là 41.477.800 đồng, đây là số tiền dùng đánh bạc cao nhất trong các bị cáo còn lại. Do vậy, mức án 01 năm 03 tháng tù mà Tòa cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là là phù hợp. Do đó, không có căn cứ xét kháng cáo của bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đối với kháng cáo của bị cáo Đặng Kim Ng: nhận thấy mức án 07 tháng tù mà cấp sơ thẩm đã tuyên phạt là phù hợp, bỡi lẽ bị cáo vừa có nhân thân xấu lại vừa phạm tội nhiều lần. Do đó, không có căn cứ xét kháng cáo của bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Trong phần tranh luận bị cáo Đặng Thị Lệ H cho rằng bị cáo chỉ phạm tội tổ chức đánh bạc và xem xét lại cho bị cáo về tội đánh bạc.

Bị cáo Lộc Lục M không ý kiến tranh luận.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo Đặng Thị Lệ H mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt tù treo để có cơ hội chăm lo cho gia đình. Bị cáo Lộc Lục M xin được phạt tiền.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đơn kháng cáo của bị cáo được thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ngày 12/9/2023 bị cáo Đặng Kim Ng có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị cáo.

Căn cứ vào lời khai của các bị cáo và các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xác định: ngày 26/10/2022, tại khu trò chơi Chú Voi Con Trung tâm thương mại Vi thuộc khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, Đặng Thị Lệ H và Đặng Ng Phú H4 có hành vi tổ chức cho các con bạc đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức chơi game bắn cá, cụ thể tổ chức cho Lộc Lục M đánh bạc với số tiền 41.477.800 đồng, bị cáo Trình Bảo C là 7.500.000 đồng, bị cáo Nồng Quay V là 12.440.040 đồng, bị cáo Đỗ Kim H3 là 29.131.460 đồng, bị cáo Hoàng Trọng H1 là 23.614.720 đồng, bị cáo Nguyễn Thị Bảo Tr1 là 20.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo Đặng Thị Lệ H và Đặng Ng Phú H4 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự. Hành vi của các bị cáo Lộc Lục M, Trình Bảo C, Nồng Quay V, Đỗ Kim H3, Hoàng Trọng H1 và Nguyễn Thị Bảo Tr1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, vào ngày 19/10/2022 bị cáo Đặng Thị Lệ H tổ chức cho bị cáo Đặng Kim Ng đánh bạc số tiền 15.000.000 đồng và ngày 20/10/2022 là 10.200.100 đồng. Hành vi của bị cáo Đặng Thị Lệ H và Đặng Kim Ng đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Do đó, Tòa án sơ thẩm xét xử các bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét kháng cáo của các bị cáo Đặng Thị Lệ H, Đặng Kim Ng, Lộc Lục M:

Bị cáo Đặng Thị Lệ H kháng cáo với nội dung xin hưởng án treo. Xét thấy, Ngày 19 và 20/10/2022, bị cáo H tổ chức cho bị cáo Ng đánh bạc mỗi lần là 15.000.000 đồng và 10.200.100 đồng. Ngày 26/10/2022 bị cáo H đã tổ chức đánh bạc cho các con bạc là Ng, H3, C, V, H1, Tr1. Tòa cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc” và 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc” là phù hợp. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp thêm tình tiết mới, bị cáo Đặng Thị Lệ H phạm 02 tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc”, ngoài ra bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên” đối với tội”Đánh bạc” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Do đó, bị cáo Đặng Thị Lệ H kháng cáo xin được hưởng án treo là không đủ điều kiện theo quy định của Điều 65 của Bộ luật Hình sự và Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Do đó, kháng cáo xin hưởng án treo là không được chấp nhận. Tuy nhiên, xét bị cáo H đã ly hôn chồng, là lao động Chính trong gia đình và đang nuôi con nhỏ (sinh năm 2012) đang ăn học. Vì vậy, để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, giảm một phần hình phạt đối với tội “Tổ chức đánh bạc” cho bị cáo H, sửa quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Đặng Thị Lệ H.

Bị cáo Đặng Kim Ng kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt. Xét thấy, bị cáo Ng thực hiện hành vi đánh bạc tại thành phố T, trong thời gian cho tại ngoại để chờ xét xử (đã xử tại bản án hình sự số 84A/2023/HSST ngày 24/3/2023, Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương xử phạt bị cáo Đặng Kim Ng 60.000.000 đồng về tội Đánh bạc). Đến ngày 19 và 20/12/2022 bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi “Đánh bạc”, thể hiện bị cáo xem thường pháp luật. Vì vậy, Tòa cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Ng 07 tháng tù là phù hợp, không nặng. Do đó, bị cáo Ng kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt là không có cơ sở nên Hội đồng xét xử không chấp nhận, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Đặng Kim Ng.

Bị cáo Lộc Lục M kháng cáo với nội dung xin được phạt tiền. Xét thấy, bị cáo Lộc Lục M có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, đã ly hôn chồng và đang nuôi 02 con nhỏ ăn học, có địa chỉ rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng, không cần chấp hành hình phạt tù cũng có khả năng tự cải tạo, không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và không thuộc trường hợp không cho hưởng án treo nên bị cáo đủ điều kiện hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Do đó, không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà căn cứ Điều 65 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo đối với bị cáo Ng. Bị cáo kháng cáo xin phạt tiền nhưng xét bị cáo có hoàng cảnh khó khăn, bị cáo là mẹ đơn thân đang nuôi các con nhỏ ăn học nên Hội đồng xét xử không chấp nhận phạt tiền mà chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 164/2023/HS-ST ngày 07 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương về hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo Lộc Lục M.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Kim Ng là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với bị cáo Đặng Thị Lệ H và Lộc Lục M, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo là chưa xem xét các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân, hoàn cảnh của các bị cáo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo của bị cáo Đặng Kim Ng không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí. Bị cáo Đặng Thị Lệ H và Lộc Lục M kháng cáo được chấp nhận một phần nên các bị cáo không phải chịu án phí theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đối với bị cáo Đặng Kim Ng;

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đối với bị cáo Đặng Thị Lệ H;

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đối với bị cáo Lộc Lục M;

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Kim Ng. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 164/2023/HS-ST ngày 07 tháng 6 năm 2023 Toà án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương về hình phạt đối với bị cáo Đặng Kim Ng;

2. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Đặng Thị Lệ H. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 164/2023/HS-ST ngày 07 tháng 6 năm 2023 Toà án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương về hình phạt đối với bị cáo Đặng Thị Lệ H về tội “Tổ chức đánh bạc”.

3. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lộc Lục M. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 164/2023/HS-ST ngày 07 tháng 6 năm 2023 Toà án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương về hình phạt đối với bị cáo bị cáo Lộc Lục M.

4. Áp dụng điều luật và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Đặng Thị Lệ H phạm tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc”.

Tuyên bố các bị cáo Đặng Kim Ng và Lộc Lục M phạm tội “Đánh bạc”.

5. Về áp dụng điều luật, hình phạt:

5.1 Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Thị Lệ H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức đành bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Thị Lệ H 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Đặng Thị Lệ H phải chấp hành chung cho 02 tội là 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (bị cáo được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/10/2022 đến ngày 02/12/2022).

5.2 Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Kim Ng 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

5.3. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lộc Lục M 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (một) năm (06) sáu tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (19/9/2023).

Giao bị cáo Lộc Lục M cho Ủy ban nhân dân phường Bình Nhâm, thành phố T, tỉnh Bình Dương để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

6. Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Đặng Kim Ng phải chịu 200.000 đồng. Bị cáo Đặng Thị Lệ H và bị cáo Lộc Lục M không phải chịu.

7. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ