vanban.org

Bản án 142/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Quận 10, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 27/05/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39, điểm h khoản 1 Điều 40 , Điều 147, Điều 238, Điều 235, Điều 266, Điều

271, khoản 1 Điều 273, của Bộ luật tố tụng dân sự; ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vai tài sản"
  • Tòa quyết gì? 39, điểm h khoản 1 Điều 40 , Điều 147, Điều 238, Điều 235, Điều 266, Điều
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 142/2022/DS – ST
Ngày: 27/05/2022
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Đức Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thu Hằng

2. Bà Trần Thị Thanh Thủy

Thư ký phiên tòa: Bà Trà Thị Thúy Diễm - thư ký Tòa án nhân dân Quận 10.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham

gia phiên tòa: Ông Phan Trần Vĩnh Phúc - Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố

Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 179/2020/TLST-DS

ngày 01 tháng 7 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2022/QĐXXST-DS ngày 08

tháng 4 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 67/2022/QĐST-DS ngày 05

tháng 5 năm 2022 giữa:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần T

Địa chỉ trụ sở chính: Tòa nhà T, số 57 phố A, phường A1, quận A2,

Thành phố Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Minh P – Chủ tịch Hội đồng quản

trị

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1991

và/hoặc ông Nguyễn Trường L và/hoặc ông Nguyễn Minh K, sinh năm

1997 (xin vắng mặt) (Theo các văn bản ủy quyền số 08/2019/UQ-

TPB.HĐQT ngày 14/5/2019 và số 370/2020/UQ-TPB.NHCN.RB ngày

08/6/2020)

Bị đơn: 1/ Ông Trương Quốc T, sinh năm 1983 (vắng mặt)

Địa chỉ: 5/38 B, Phường B1, Quận B2, Thành phố Hồ Chí Minh

2/ Bà Châu Thị L, sinh năm 1981 (vắng mặt)

Địa chỉ: Căn hộ A1.2216 Cao ốc HB, số 346 BVĐ, Phường C1, Quận C2,

Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 19/6/2020 và quá trình giải quyết vụ án, đại diện

nguyên đơn là ông Nguyễn Minh K trình bày:

Bà Châu Thị L và Ông Trương Quốc T vay vốn tại Ngân hàng TMCP T

(TBANK – chi nhánh HV), địa chỉ 32A HG, Phường D1, Quận D2, Thành phố Hồ Chí Minh, theo Hợp đồng cho vay số 488/2016/HDTD/TTBMN2/01 ngày 30/11/2016, nội dung chính như sau:

Số tiền vay: 500,000,000 đồng (Bằng chữ: Năm trăm triệu đồng). Thời hạn

vay: 48 tháng. Mục đích sử dụng vốn: Vay mua xe theo hợp đồng mua bán xe ô tô số 1773/2016/HĐMB–Mazda3CKD/CNGVT giữa Ông Trương Quốc T và Chi nhánh GV – Công ty cổ phần ô tô TH ngày 25/11/2016

Lãi suất linh hoạt trong hạn như sau:

+ Lãi suất áp dụng kể từ ngày 30/11/2016 cho đến ngày 30/11/2017 là

7,9%/năm;

+ Lãi suất áp dụng cho thời gian tiếp theo đến ngày 30/11/2020: Lãi suất

được điều chỉnh định kỳ 03 tháng một lần và bằng Lãi suất tiền gửi tiết kiệm thường lĩnh cuối kỳ, kỳ hạn 12 tháng, dành cho khách hàng cá nhân của TBank tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) biên độ 4,25%/năm.

Lãi suất nợ quá hạn bằng 1,5 lần lãi suất trong hạn tại thời điểm chuyển quá

hạn.

Tài sản bảo đảm cho khoản vay nêu trên theo Hợp đồng thế chấp tài sản số

488/2016/HDBD/TTB MN2/01 ngày 30/11/2016: Xe nhãn hiệu Mazda màu trắng, số khung RN2BM5AA6GC051619, số máy P520405889, Biển kiểm soát 51G-203.23.

Quá trình thực hiện hợp đồng Bà Châu Thị L và Ông Trương Quốc T đã vi

phạm nghĩa vụ trả nợ đối với TBank kể từ ngày 26/08/2019 và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận trong các Hợp đồng cho vay. Tạm tính đến ngày 27/05/2022, Bà Châu Thị L và Ông Trương Quốc T còn nợ TBank số tiền là: nợ gốc: 166,666,656 đồng và nợ lãi trong hạn 13,919,450, nợ lãi quá hạn 71,387,602 đồng. Tổng nợ: 251,973,708 đồng (Bằng chữ: Hai trăm năm mươi mốt triệu chín trăm bảy mươi ba nghìn, bảy trăm lẻ tám đồng). Nay Ngân hàng TMCP T khởi kiện yêu cầu: -Yêu cầu Tòa án buộc Bà Châu Thị L và Ông Trương Quốc T phải thanh toán cho TBank toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi theo các Hợp đồng cho vay nêu trên; Tạm tính đến ngày 27/05/2022, Bà Châu Thị L và Ông Trương Quốc T còn nợ TBank số tiền là: nợ gốc: 166,666,656 đồng và nợ lãi trong hạn 13,919,450, nợ lãi quá hạn 71,387,602 đồng. Tổng nợ: 251,973,708 đồng (Bằng chữ: Hai trăm năm mươi mốt triệu chín trăm bảy mươi ba nghìn, bảy trăm lẻ tám đồng).

-Yêu cầu Tòa án tiếp tục cho tính lãi theo đúng thỏa thuận trong các Hợp

đồng cho vay cho đến ngày Bà Châu Thị L và Ông Trương Quốc T thực tế

thanh toán hết nợ cho TBank.

- Trường hợp Bà Châu Thị L và Ông Trương Quốc T không trả nợ hoặc trả

nợ không đầy đủ, T Bank có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cho kê biên,

phát mãi Tài sản đảm bảo để thu hồi nợ cho T Bank, cụ thể là : Xe nhãn hiệu

Mazda màu trắng, số khung RN2BM5AA6GC051619, số máy P520405889,

Biển kiểm soát 51G-203.23.

Bị đơn là bà Châu Thị L trình bày: Đối với khoản vay 500.000.000 đồng tại

Ngân hàng TBank – Chi nhánh HV thì tại thời điểm vay bà đang là vợ của ông

Trương Quốc T. Hiện nay bà và ông T đã ly hôn nên số nợ còn lại mà Ngân

hàng đang khởi kiện bà và ông T thì bà đề nghị xử lý tài sản thế chấp là chiếc xe

để thực hiện việc thu hồi nợ. Thực tế tiền mua xe và thanh toán trả nợ cho Ngân

hàng đều do ông T chịu trách nhiệm nên bà đề nghị loại trừ trách nhiệm trả nợ

của bà.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án

và triệu tập hợp lệ bị đơn là ông Trương Quốc T đến Tòa án để tham gia phiên

họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị

đơn là ông Trương Quốc T vắng mặt.

* Tại phiên tòa:

Chủ tọa phiên tòa công bố: Đại diện nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử

vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai mà vẫn

vắng mặt không có lý do.

Chủ tọa công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ

vụ án. Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận B2 phát biểu:

Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến thời điểm

hiện nay, thấy rằng Tòa án thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Tòa án

đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho các đương sự.

Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện

đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền

và nghĩa vụ của mình. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt

tại phiên tòa là vi phạm khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa

ngày hôm nay, bị đơn vắng mặt đến lần thứ 2 mà không có lý do, nguyên đơn có

đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên

đơn và bị đơn là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn

cứ phù hợp với quy định của pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn

bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

- Xét đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCP T (sau đây gọi tắt là Ngân

hàng) yêu cầu ông Trương Quốc T, bà Châu Thị L có nghĩa vụ trả nợ vì vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng tín dụng đã ký giữa hai bên nên quan hệ tranh chấp trong vụ án này là : “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Theo xác minh số 406/2020/XM-TA ngày 06/07/2020, số 179/XM-TA

ngày 03/9/2020 của Công an Phường B1, Quận B2; Xác minh số 501/XM-TA ngày 17/8/2020 của Công an Phường C1, Quận C2; Xác minh số 500/XM-TA ngày 17/8/2020 của Công an Phường D1, Quận D2 thể hiện nơi cư trú cuối cùng của bị đơn ông Trương Quốc T là tại địa chỉ: 5/38 B, Phường B1, Quận B2, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi cư trú cuối cùng của bà Châu Thị L là tại địa chỉ Căn hộ A1.2216 Cao ốc HB, số 346 BVĐ, Phường C1, Quận C2, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ ông T, bà L ghi trong các Hợp đồng cho vay, khế ước nhận nợ, hợp đồng thế chấp tài sản cùng là địa chỉ 5/38 B, Phường B1, Quận B2, Thành phố Hồ Chí Minh; Nguyên đơn là Ngân hàng T lựa chọn khởi kiện tại Tòa án nhân dân Quận B2 nên vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận B2 theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm h khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc xét xử vắng mặt các đương sự tại phiên tòa: Đại diện nguyên

đơn đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét các yêu cầu của nguyên đơn:

Xét về số tiền phải trả

Xét thấy vào ngày 30/11/2016 giữa Ngân hàng T và ông T, bà L có ký các

văn bản sau :

Hợp đồng cho vay số 488/2016/HDTD/TTBMN2/01 ; Giấy đề nghị giải

ngân kiêm khế ước nhận nợ số 488/2016/HDTD/TTBMN2/01 ; Hợp đồng thế chấp tài sản số 488/2016/HDTD/TTBMN2/01.

Nội dung chính của các hợp đồng trên là Ngân hàng cho ông T bà L vay

số tiền 500.000.000 đồng, thời hạn vay là 48 tháng ; Lãi suất được áp dụng theo như Ngân hàng đã trình bày ở trên; Mục đích vay để mua xe theo hợp đồng mua bán xe ô tô số 1773/2016/HĐMB-Mazda3CKD/CNGVT giữa ông Trương Quốc T và Công ty cố phần ô tô TH – Chi nhánh GV. Loại xe mua đồng thời là tài sản thế chấp là chiếc xe nhãn hiệu Mazda3 màu trắng, số khung RN2BM5AA6GC0516, số máy P520405889, biển kiểm soát 51G-203.23.

Xét thấy, sau khi ký hợp đồng vay Ngân hàng đã giải Ngân số tiền

500.000.000 đồng cho ông T, bà L để thực hiện việc mua xe ô tô. Ông T, bà L

đã nhận đủ số tiền trên thể hiện qua nội dung của Giấy đề nghị giải ngân kiêm

khế ước nhận nợ mà ông T, bà L đã ký với Ngân hàng.

Quá trình thực hiện hợp đồng ông T, bà L có thực hiện việc trả nợ cho

Ngân hàng tới thời điểm tháng 8/2019 thì ông T bà L vi phạm nghĩa vụ trả nợ

theo kỳ hạn theo quy định tại hợp đồng tín dụng đã ký kết nên toàn bộ khoản

cấp tín dụng đã bị chuyển sang nợ quá hạn kể từ ngày 26/08/2019 với mức lãi

suất nợ quá hạn. Ngân hàng đã ra Thông báo thu hồi nợ trước hạn gửi ông T, bà

L với dư nợ tại thời điểm ngày 25/9/2019 là : Nợ gốc : 166.666.656 đồng ; nợ lãi

2.648.357 đồng, Tổng cộng là 169.315.013 đồng.

Xét thấy, kể từ ngày 26/08/2019 là ngày dư nợ chuyển sang quá hạn cho

tới thời điểm Tòa án đưa vụ án ra xét xử thì ông T, bà L vẫn chưa trả nợ thêm

bất kỳ khoản nào nên Ngân hàng có quyền khởi kiện yêu cầu ông T, bà L phải

trả nợ là có cơ sở chấp nhận.

- Xét về số tiền nợ gốc : Ngân hàng yêu cầu ông T, bà L có nghĩa vụ trả số

tiền nợ gốc 166.666.656 đồng. Xét thấy, qua các bản sao kê tài khoản mà Ngân

hàng cung cấp về quá trình trả nợ của ông T, bà L thì thể hiện rằng số tiền nợ

gốc này là từ ngày 26/8/2019 nhưng cho tới nay ông T, bà L vẫn chưa trả thêm

được khoản nào nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân

hàng, buộc ông T, bà L phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 166.666.656

đồng.

- Xét về số tiền nợ lãi : Ngân hàng yêu cầu ông T, bà L trả nợ lãi trong

hạn số tiền 13.919.450 và nợ lãi quá hạn tính đến ngày 27/05/2022 là

71.387.602 đồng.

Căn cứ thỏa thuận của các bên trong hợp đồng tín dụng và quá trình trả nợ

của ông T bà L thì thời điểm khoản nợ chuyển quá hạn là kể từ ngày

26/08/2019. Xét thấy, Ngân hàng đã tính các khoản lãi trong hạn, quá hạn đúng

theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng tín dụng và phù hợp với quy định tại

Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của

Ngân hàng, buộc ông T, bà L có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền nợ lãi trong

hạn là 13.919.450 đồng, số tiền nợ lãi quá hạn tính đến ngày 27/05/2022 là

71.387.602 đồng. Nợ lãi quá hạn tính trên số tiền gốc sẽ tiếp tục được tính sau

ngày 27/05/2022 theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng.

Như vậy, về số tiền trả nợ, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu

khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn là ông T, bà L phải trả cho Ngân hàng số

tiền gốc, lãi tính đến ngày 27/05/2022 tổng cộng là 251.973.708 đồng. (hai trăm

năm mươi mốt triệu, chín trăm bày mươi ba ngàn, bảy trăm lẻ tám đồng).

Xét về người có nghĩa vụ trả nợ :

Bị đơn là bà Châu Thị L có trình bày trong bản tự khai ngày 25/11/2020

không đồng ý trả nợ cùng với ông T khoản nợ trên. Lý do vì thời điểm vay mua

xe ô tô thì bà L là vợ của ông T, nhưng sau đó thì hai người đã ly hôn vào tháng 3 năm 2019 ; Tiền mua xe và thanh toán nợ Ngân hàng do ông T chịu trách nhiệm vì đó là xe của ông T.

Xét thấy, thời điểm ký hợp đồng cho vay, khế ước nhận nợ, hợp đồng thế

chấp tài sản là ngày 30/11/2016 thì ông T, bà L cùng ký tên vào các hợp đồng này và tại thời điểm ký thì ông T, bà L đang là vợ chồng hợp pháp. Theo quy định tại Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình : ‘Vợ chồng có nghĩa vụ chung về tài sản sau đây :

Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập,

nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm’’

Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình quy định : ‘‘Vợ chồng chịu trách

nhiệm liên đới về các nghĩa vụ quy định tại Điều 37 của Luật này’’

Điều 60 Luật Hôn nhân và gia đình quy định : ‘‘Quyền, nghĩa vụ về tài

sản của vợ chồng đối với người thứ ba vẫn có hiệu lực sau ly hôn, trừ trường hợp vợ chồng và người thứ ba có thỏa thuận khác’’

Căn cứ các quy định của luật như trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận

lời trình bày của bà L, buộc ông Trương Quốc T và bà Châu Thị L có nghĩa vụ liên đới trả các khoản nợ cho Ngân hàng.

Về xử lý tài sản đảm bảo

Khoản vay của ông T, bà L được đảm bảo bằng việc thế chấp tài sản cùng

quyền và lợi ích phát sinh từ tài sản là chiếc xe nhãn hiệu Mazda3 màu trắng, số khung RN2BM5AA6GC0516, số máy P520405889, biển kiểm soát 51G-203.23. Việc xử lý tài sản thế chấp được quy định tại Hợp đồng thế chấp tài sản ngày 30/11/2016 và bản sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp ngày 12/12/2016. Việc thế chấp trên đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh và Thông báo về việc thế chấp phương tiện giao thông cho Công an Thành phố Hồ Chí Minh.

Xét thấy, việc thế chấp của các bên đã thực hiện đúng theo các quy định

của pháp luật nên phát sinh hiệu lực buộc các bên phải thi hành. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc trường hợp ông Trương Quốc T, bà Châu Thị L không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cho kê biên, phát mãi tài sản là chiếc xe nhãn hiệu Mazda3 màu trắng, số khung RN2BM5AA6GC0516, số máy P520405889, biển kiểm soát 51G-203.23 để thu hồi nợ.

Về án phí: Ông Trương Quốc T, bà Châu Thị L phải liên đới chịu án

phí dân sự sơ thẩm tính trên số tiền phải trả cho Ngân hàng TMCP T số tiền là 12.598.685 đồng. Trả lại cho Ngân hàng TMCP T số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận B2 tại phiên tòa là

phù hợp với phần nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều

39, điểm h khoản 1 Điều 40 , Điều 147, Điều 238, Điều 235, Điều 266, Điều

271, khoản 1 Điều 273, của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự;

- Căn cứ khoản 2 Điều 3, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

- Căn cứ Điều 27, Điều 37, Điều 60 Luật hôn nhân và gia đình ;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy

ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và

sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Căn cứ Luật thi hành án dân sự.

Xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần

T.

1.1. Ông Trương Quốc T và bà Châu Thị L có nghĩa vụ liên đới thanh toán

cho Ngân hàng thương mại cổ phần T số tiền nợ theo Hợp đồng cho vay số

488/2016/HDTD/TTBMN2/01 ngày 30/11/2016; Giấy đề nghị giải ngân kiêm

khế ước nhận nợ số 488/2016/HDTD/TTBMN2/01 ngày 30/11/2016 ; Hợp đồng

thế chấp tài sản số 488/2016/HDTD/TTBMN2/01 ngày 30/11/2016 và Bản sửa

đổi bổ sung hợp đồng thế chấp số 488/2016/HDTD/TTBMN2/01/SĐBSHĐ số

tiền là 251.973.708 đồng (hai trăm năm mươi mốt triệu chín trăm bảy mươi ba

ngàn bảy trăm lẻ tám đồng) (gồm nợ gốc là 166.666.656 đồng, nợ lãi trong hạn

13.919.450 đồng, nợ lãi quá hạn 71.387.602 đồng).

1.2. Việc thanh toán tiền được thực hiện một lần tại cơ quan thi hành án

dân sự có thẩm quyền ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

1.3. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải

tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức

lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong

khoản tiền nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng cho vay, các bên có thỏa

thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho

vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho

vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự

điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Sau khi ông Trương Quốc T và bà Châu Thị L thực hiện xong nghĩa vụ

trả nợ thì Ngân hàng thương mại cổ phần T phải trả các giấy tờ (bản chính) liên

quan đến tài sản thế chấp để làm thủ tục giải chấp tài sản đảm bảo cho ông

Trương Quốc T và bà Châu Thị L.

Trường hợp ông Trương Quốc T và bà Châu Thị L không thực hiện đúng

thời hạn trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng thương mại cổ phần T

có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi

tài sản thế chấp để thu hồi nợ, cụ thể là: chiếc xe nhãn hiệu Mazda3 màu trắng,

số khung RN2BM5AA6GC0516, số máy P520405889, biển kiểm soát 51G-

203.23

3. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 12.598.685 đồng (mươi hai triệu

năm trăm chí mươi tám ngàn sáu trăm tám mươi lăm đồng) do ông Trương Quốc T và bà Châu Thị L có nghĩa vụ liên đới chịu. Hoàn lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.561.778 đồng (bốn triệu năm trăm sáu mươi mốt ngàn bảy trăm bảy mươi tám đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2019/0014725 ngày 22/06/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận B2, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng thương mại cổ phần T, ông Trương

Quốc T và bà Châu Thị L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ