vanban.org

Bản án 142/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam Tuyên án 29/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Chu Minh T và Vũ Văn H phạm tội:“Tàng"trữ"trái"phép" chất"ma"túy”.

Xử phạt bị cáo Chu Minh T 36 (ba"mươi"sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 12/6/2021. Xử phạt bị cáo Vũ Văn H 40 (bốn"mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 12/6/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chu Minh T và Vũ Văn H phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy". - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Chu Minh T và Vũ Văn H phạm tội:“Tàng"trữ"trái"phép" chất"ma"túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHỦ LÝ
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 142/2021/HS-ST
Ngày 29-10-2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán"-"Chủ"toạ"phiên"toà: Ông Lê Thanh Sơn.

Các"Hội"thẩm"nhân"dân:"

1. Bà Trần Thị Hoa. "

2. Ông Lê Chí Trung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án."

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 127/2021/TLST-HS ngày 06/9/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2021/QĐXXST-HS ngày 15/10/2021 đối với các bị cáo:

1. Chu Minh T, sinh năm 1977 tại Hà Nam; nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Tổ 1, thị trấn Q, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu Minh C và bà Lê Thị T; có vợ là Chu Thị H, sinh năm 1982 và 02 con, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 24/03/2017, Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xử phạt 36 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/05/2019; bị bắt, tạm giữ ngày 12/6/2021, tạm giam từ ngày 18/6/2021 đến nay; có mặt.

2. Vũ Văn H, sinh năm 1992 tại Hà Nam; nơi ĐKHKTT, chỗ ở: Xóm 8, xã N, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Xuân H và bà Nguyễn Thị B; vợ, con: Chưa có; tiền án: Ngày 15/03/2018, Tòa án nhân dân huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xử phạt 36 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/05/2020; tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ ngày 12/6/2021, tạm giam từ ngày 18/6/2021 đến nay; có mặt.

-"Người"có"quyền"lợi,"nghĩa"vụ"liên"quan"đến"vụ"án:"Ông Vũ Xuân H, sinh năm 1960; trú tại: Xóm 8, xã N, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam; có mặt.

-"Người"làm"chứng: Anh Vũ Thanh N, sinh năm 1991; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 12/6/2021, Vũ Văn H điều khiển xe máy nhãn hiệu HONDA Wave, BKS: 90D1-043... từ nhà đi đến nhà Chu Minh T ở tổ 1, thị trấn Q, huyện Kim Bảng chơi. Trong lúc nói chuyện, T bảo H:“Mày"chở"anh"xuống"đây" lấy"quả"hàng"anh"em"mình"chơi”, hiểu ý T rủ đi mua ma túy để sử dụng nên H đồng ý. Sau đó H điều khiển xe máy chở T đi đến khu vực cầu Châu Sơn thuộc phường Thanh Châu, thành phố Phủ Lý thì T bảo H dừng xe lại, H xuống xe đứng đợi còn T điều khiển xe máy đi tiếp. T đi đến khu vực tổ dân phố Bảo Lộc 1, phường Thanh Châu, thành phố Phủ Lý thì dừng lại và mua được của một người đàn ông không quen biết đứng ven đường 01 gói ma túy bọc trong giấy bạc màu vàng với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T cầm gói ma túy trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe máy quay trở lại gặp H, T nói với H về việc mình đã mua được ma túy rồi cùng H đi tìm nơi để sử dụng. Khi đi đến khu vực đường Lê Chân thuộc tổ 5, phường Lê Hồng Phong, thành phố Phủ Lý thì T và H bị tổ tuần tra của Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Hà Nam đang làm nhiệm vụ phát hiện thấy nghi vấn nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Tại chỗ, T tự giác lấy giao nộp cho lực lượng Công an 01 gói giấy bạc màu vàng, kiểm tra bên trong thấy có chứa chất bột màu trắng dạng cục, T và H đều khai nhận đó là gói ma túy T vừa đi mua được, cất giấu mục đích để cùng nhau sử dụng.

Vật chứng, tài sản thu giữ của vụ án gồm:

- Thu giữ của Chu Minh T 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01; 01 thẻ căn cước công dân số 035077003106 mang tên Chu Minh T và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung.

- Thu giữ của Vũ Văn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung và 01 xe máy nhãn hiệu HONDA Wave màu xanh, BKS: 90D1-043..

Tại bản Kết luận giám định số 123/PC09-MT ngày 17/6/2021, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận: “Mẫu"bột"màu"trắng"dạng"cục"trong" phong"bì"ký"hiệu"QT01"gửi"giám"định"là"ma"túy,"có"khối"lượng"0,191"gam,"loại" Heroine”.

Bản Cáo trạng số 141/CT-VKS-PL ngày 06/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đã truy tố Chu Minh T và Vũ Văn H cùng về tội:“Tàng"trữ"trái"phép"chất"ma"túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại"phiên"tòa:"

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý thực hành quyền công tố Nhà nước giữ nguyên quan điểm không thay đổi, bổ sung về nội dung đã truy tố đối với các bị cáo Chu Minh T và Vũ Văn H, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng chung điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo; áp dụng bổ sung điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vũ Văn H:

- Xử phạt các bị cáo Chu Minh T và Vũ Văn H đều từ 36 tháng đến 42 tháng tù.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

- Xử lý vật chứng của vụ án theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Vũ Xuân H trình bày, xác nhận chiếc xe môtô nhãn hiệu HONDA Wave màu xanh, biển kiểm soát: 90D1-043... đã bị Cơ quan điều tra thu giữ trong vụ án là tài sản hợp pháp của ông giao cho bị cáo Vũ Văn H mượn để làm phương tiện đi lại. Ông H đề nghị xin được nhận lại tài sản này để tiếp tục sử dụng.

Các bị cáo Chu Minh T và Vũ Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã truy tố. Trong lời nói sau cùng, các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đối với người tham gia tố tụng là người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được Cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về tội danh: Tại phiên tòa, các bị cáo Chu Minh T và Vũ Văn H đều đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã nêu. Lời khai của các bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với các chứng cứ của vụ án như biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận giám định về chất ma túy, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, của người làm chứng, lý lịch tư pháp của các bị cáo và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 12/6/2021, tại khu vực tổ 5, phường Lê Hồng Phong, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, Chu Minh T và Vũ Văn H đã bị lực lượng Công an thuộc Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Hà Nam phát hiện, bắt giữ quả tang đang cất giấu trái phép 0,191 gam chất ma túy loại Heroine, mục đích để cùng sử dụng. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội:“Tàng"trữ"trái"phép"chất"ma"túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về vị trí, vai trò mức độ phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

Về vị trí, vai trò, mức độ phạm tội của các bị cáo: Xét thấy, trong vụ án bị cáo Chu Minh T là người khởi xướng, trực tiếp thực hiện hành vi đi mua ma túy cất giấu để sử dụng nên giữ vai trò thứ nhất. Vũ Văn H là đồng phạm, tích cực hưởng ứng cùng Chu Minh T thực hiện tội phạm nên có vai trò thứ hai, cùng phải chịu hình phạt theo quy định của pháp luật.

Về nhân thân: Các bị cáo đều là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đều có nhân thân xấu; bị cáo Chu Minh T từng bị kết án về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” nhưng đã được xóa án tích; bị cáo Vũ Văn H đã bị kết án về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” và chưa được xóa án tích.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Vũ Văn H đã bị kết án về tội phạm ma túy, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái"phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 và khoản 1 Điều 53 Bộ luật hình sự. Bị cáo Chu Minh T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định của pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên sẽ cùng được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt:

Hình phạt chính: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mức độ nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và các chất gây nghiện trực tiếp là các hoạt động cất giữ, tàng trữ chất ma túy, gây mất trật tự, an toàn cho xã hội, làm nảy sinh tệ nạn ma túy là mầm mống, nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Các bị cáo đều là những người từng bị kết án về tội phạm ma túy nhưng đã không lấy đó làm bài học cảnh tỉnh, tu dưỡng bản thân mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên đều thể hiện bản chất coi thường pháp luật. Vì vậy, cần có mức hình phạt thật nghiêm minh, tương xứng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm các bị cáo đã thực hiện, vị trí, vai trò phạm tội và nhân thân xấu của từng bị cáo mới có tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục các bị cáo ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật, đồng thời nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.

Hình phạt bổ sung: Do các bị cáo đều là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập và tài sản riêng; phạm tội không vì mục đích vụ lợi nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung (như phạt tiền, tịch thu tài sản…) đối với các bị cáo.

Đối với người đàn ông ở tổ dân phố Bảo Lộc 1, phường Thanh Châu, thành phố Phủ Lý theo bị cáo Chu Minh T khai là người đã bán ma túy cho bị cáo để cất giấu, do Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp nghiệp vụ phối hợp để điều tra, xác minh nhưng không xác định được đặc điểm nhân thân, lai lịch, địa chỉ của người này nên chưa có cơ sở để xem xét, xử lý là có căn cứ.

Về vật chứng và xử lý vật chứng đã thu giữ:

- Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Wave, màu xanh, biển kiểm soát 90D1-043..., quá trình điều tra đã xác định là tài sản hợp pháp của ông Vũ Xuân H (bố đẻ bị cáo Vũ Văn H), do ông H giao xe cho bị cáo H mượn để đi lại, không biết việc bị cáo sử dụng xe làm phương tiện để phạm tội và đã có đề nghị xin được nhận lại chiếc xe để sử dụng nên sẽ trả lại tài sản này cho ông H.

- Đối với 01 căn cước công dân mang tên Chu Minh T và 02 chiếc điện thoại di động đều có nhãn hiệu Samsung, quá trình điều tra đã xác định đó là những giấy tờ, tài sản hợp pháp của các bị cáo Chu Minh T và Vũ Văn H và không liên quan đến vụ án nên sẽ trả lại cho các bị cáo.

- Đối với toàn bộ số Heroine hoàn trả sau giám định cùng bao gói là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị sử dụng sẽ tịch thu, tiêu hủy.

Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì"các"lẽ"trên,"

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50 và Điều 58 Bộ luật hình sự áp dụng chung đối với các bị cáo; điểm h khoản 1 Điều 52 áp dụng bổ sung đối với bị cáo Vũ Văn H:

Tuyên bố các bị cáo Chu Minh T và Vũ Văn H phạm tội:“Tàng"trữ"trái"phép" chất"ma"túy”.

- Xử phạt bị cáo Chu Minh T 36 (ba"mươi"sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 12/6/2021.

- Xử phạt bị cáo Vũ Văn H 40 (bốn"mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 12/6/2021.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Trả lại cho ông Vũ Xuân H 01 (một) xe máy Wave màu xanh, biển kiểm soát: 90D1-043.., số khung: Y205304, số máy: E-5205526.

- Trả lại cho bị cáo Chu Minh T 01 (một) thẻ căn cước công dân số 035077003106 mang tên Chu Minh T; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màn hình cảm ứng, vỏ màu xám sáng, số IMEI: 354802092434423/01, có lắp thẻ Sim.

- Trả lại cho bị cáo Vũ Văn H 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màn hình cảm ứng, vỏ màu xám sáng, số IMEI: 359052098452467/01, có lắp thẻ Sim.

- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì đã niêm phong mặt trước ghi:“Mẫu" vật"hoàn"trả"QT01”, số 123/PC09-MT có chữ ký và dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam.

Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý ngày 08/9/2021.

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Danh mục án phí, lệ phí Tòa án theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc các bị cáo Chu Minh T và Vũ Văn H mỗi người nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ