vanban.org

Bản án 142/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Tuyên án 06/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi Ngọc B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Bùi Ngọc B 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày T a tuyên án. Giao bị cáo Bùi Ngọc B cho Ủy ban nhân dân phường V, thị xã T, tỉnh Bình Dương giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Ngọc B - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Ngọc B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH B DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 142/2020/HS-ST
Ngày: 16-7-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH B DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Nhật Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hiệp.

Ông Võ Văn Hiệp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh B Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành ph Thủ Dầu Một, tỉnh B Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Điền - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở T a án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh B Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 146/2020/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 159/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:

Bùi Ngọc B, sinh năm 1993 tại Thanh Hóa. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã X, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Tạm trú: Tổ 4, khu phố 4, phường V, thị xã T, tỉnh B Dương. Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Ngọc C và bà Tạ Thị C; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.

- Bị hại: Bùi Văn C (đã chết)

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

1. Ông Bùi Văn Tr, sinh năm 1966 (cha ruột bị hại); có mặt.

2. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1966 (mẹ ruột bị hại)

Cùng địa chỉ: Thôn 12, xã N, huyện C, tỉnh Đắk Nông.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Bùi Văn Tr, bà Nguyễn Thị T: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1990. Địa chỉ: Thôn 6, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước (theo văn bản ủy quyền ngày 08/10/2019); vắng mặt.

- Bị đơn dân sự: Công ty Trách nhiệm hữu hạn G. Trụ sở: Số 6, đường số 15, Khu C, phường V, thị xã T, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị Tuyết S, sinh năm 1987. Địa chỉ: Số 40, đường số D17, khu phố 1, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 10/10/2019); vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Hữu H, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

- Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Bùi Ngọc B là lái xe của Công ty Trách nhiệm hữu hạn G. Bị cáo có giấy phép lái xe hạng C có giá trị đến ngày 25/6/2024.

Khoảng 16 giờ ngày 27/9/2019, B điều khiển xe ô tô tải biển số 61LD-044.XX chở theo ông Nguyễn Hữu H đi từ Công ty Trách nhiệm hữu hạn G đến giao hàng (dầu điều) tại huyện Đức H a, tỉnh Long An. B điều khiển xe ô tô chạy đến đoạn đường nhựa không tên phía trước trụ sở Công an phường Phú Mỹ theo hướng đi từ đường Hùng Vương ra đường Huỳnh Văn Lũy. Khi đến đường Huỳnh Văn Lũy, B bật đèn xi nhan để chuyển hướng rẽ trái vào đường Huỳnh Văn Lũy. Do thiếu quan sát nên phần hông bên trái của xe ô tô do B điều khiển va chạm với phần đầu xe mô tô biển số 48D1-296.86 do anh Bùi Văn C (chưa có giấy phép lái xe hạng A1) điều khiển đang lưu thông trên đường Huỳnh Văn Lũy theo hướng đi đến đường Phạm Ngọc Thạch. Sau khi xảy ra tai nạn, anh C bị thương và chết tại bệnh viện ngày 28/9/2019.

* Căn cứ Biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông được xác định như sau:

- Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông là giao lộ đường Huỳnh Văn Lũy và đường nhựa không tên, đoạn thuộc khu phố 6, phường Phú Mỹ, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Giao lộ này không có hệ thống đèn tín hiệu giao thông nhưng có hệ thống đèn chiếu sáng đang hoạt động, tình hình xe cộ lưu thông qua lại giao lộ này vắng. Đường Huỳnh Văn Lũy tại đây là đường hai chiều, mỗi phần đường được chia thành hai làn đường, bao gồm: Làn đường thứ nhất (phía trong) dành cho xe mô tô, xe máy các loại rộng 3,7 mét; Làn đường thứ hai dành cho xe ô tô các loại, rộng 4,5 mét; Giữa đường có dãy phân cách là vạch sơn đôi liên tục. Đường nhựa không tên tại đây là đường hai chiều, không phân chia phần đường, làn đường, mặt đường rộng 13,8 mét.

- Điều kiện thời tiết: Trời tối, mặt đường khô ráo, có ánh sáng đèn đường.

- Hiện trường được đo vẽ lấy điểm mốc là trụ điện số 30/75 nằm trên hành lang bên phải của đường Huỳnh Văn Lũy (hướng từ đường Trần Ngọc Lên đến đường Phạm Ngọc Thạch. Lấy mép lề phải của đường Huỳnh Văn Lũy (giới hạn trong giao lộ) làm mép lề chuẩn 1 và lấy mép lề phải của đường không tên (hướng từ đường Huỳnh Văn Lũy đến đường Hùng Vương và giới hạn trong giao lộ) làm mép lề chuẩn 2.

- Dấu vết tại hiện trường:

+ Xe ô tô tải bồn biển số 61LD-044.XX đang dừng trong giao lộ đường không tên và đường Huỳnh Văn Lũy, đầu xe quay hướng vào lề trái của đường Huỳnh Văn Lũy (theo hướng từ đường Trần Ngọc Lên đến hướng đường Phạm Ngọc Thạch). Trục bánh xe trước bên trái cách mép lề chuẩn 1 là 4,3 mét và cách mép lề chuẩn 2 là 3,1 mét. Trục bánh xe trước bên phải cách mép lề chuẩn 1 là 5,5 mét, trục bánh sau bên trái cách mép lề chuẩn 2 là 5,4 mét.

+ Xe mô tô biển số 48D1-296.XX ngã sang trái, trục bánh xe trước cách mép lề chuẩn 1 là 3,3 mét và cách trục bánh trước bên trái xe ô tô biển số 61LD-044.XX là 1,2 mét. Trục bánh sau cách mép lề chuẩn 1 là 3,3 mét, cách mép lề chuẩn 2 là 2,4 mét và cách điểm mốc là 09 mét.

* Căn cứ Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông được lập vào lúc 09 giờ ngày 28/9/2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Thủ Dầu Một xác định dấu vết trên xe mô tô biển số 48D1-296.XX:

- Ốp nhựa phía trước đầu xe bị trầy xước dính bụi đất kích thước 09 x 09 cm, điểm thấp nhất cao cách nền đất là 98 cm.

- Ốp nhựa phía trước (mặt nạ) bị trầy xước, dính bụi đất và nhớt, thụng móp trên diện rộng kích thước 43 x 28 cm; vết thụng móp có kích thước 13 x 11 cm, tâm vết này cao cách nền đất là 71 cm; ốp nhựa này bị đẩy lệch sang phải.

- Mặt bên phải phần 1/2 trước của chắn bùn trước bị trầy xước và dính vết màu đen, kích thước 16 x 05 cm, điểm thấp nhất cao cách nền đất là 54 cm.

- Vỡ đèn tín hiệu chuyển hướng phía trước bên phải.

- Vỡ rời cánh bửng phải.

- Gác chân trước bên phải và cần phanh bị gãy gập về sau.

- Trầy xước tay cầm bên trái, đầu ngoài tay côn, đầu trước cần số, cạnh ngang phía trước, gác chân trước bên trái.

- Mặt trước ngoài ống phuộc phía trước bên phải bị trầy xước kim loại, sơn, kích thước 11 x 03 cm, điểm thấp nhất cao cách nền đất là 37 cm;

* Căn cứ Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông được lập vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 28/9/2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Thủ Dầu Một xác định dấu vết trên xe ô tô biển số tải bồn biển số 61LD-044.XX:

- Mặt sau phần nửa sau chắn bùn bánh trước bên trái, tại góc dưới bên trái (góc ngoài) bị trầy xước, mất bụi, kích thước 10 x 15 cm, điểm thấp nhất cao cách nền đất là 57 cm.

- Trầy xước kim loại, mất bụi đất, dính nhớt mặt sau ống xả khí tại vị trí ngay sau bánh trước bên trái, kích thước 20 x 07 cm, điểm thấp nhất cao cách nền đất là 52 cm.

- Thanh kim loại truyền động chuyển hướng xuống bánh thứ 2 bên trái (của trục bánh thứ hai) bị trầy xước, mất lớp bụi đất dính nhớt, kích thước 26 x 03 cm, điểm thấp nhất cao cách nền đất là 62cm, điểm gần nhất của vết này cách tâm trục bánh xe là 53 cm; thanh kim loại tại vị trí vết này bị cong nhẹ sang phải và lên trên.

- Mặt gai bánh thứ hai bên trái bị trầy xước từ trái sang phải kích thước 20 x 02 cm; Mặt ngoài bánh này bị trầy xước nhiều vết trên diện rộng kích thước 36 x 07 cm, điểm gần nhất cách trục bánh này là 44 cm.

* Căn cứ Kết luận giám định pháp y tử thi số 742A/GĐPY ngày 30/9/2019 của Ph ng Kỹ thuật hình sự (PC09) – Công an tỉnh B Dương kết luận nguyên nhân chết của anh Bùi Văn C, như sau:

1. Dấu vết chính qua giám định tử thi: Nhiều vết sây sát da, bầm tụ máu trên cơ thể nạn nhân. Vỡ xương sọ. Tụ máu dưới màng cứng. Xuất huyết não. Dập não.

2. Nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não, vỡ xương sọ, dập não, xuất huyết, tụ máu nội sọ.

* Căn cứ Kết luận giám định số 163/GĐCH-PC09 ngày 11/11/2019 của Ph ng Kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh B Dương, kết luận như sau:

1. Điểm va chạm giữa xe mô tô hai bánh, biển số 48D1-296.86 và xe ô tô tải bồn, biển số 61LD-044.56 là: Dấu vết vỡ lún, trượt xước bám dính dầu nhớt màu đen ở ốp nhựa mặt nạ, bửng trái xe mô tô phù hợp va chạm với mặt sau, mặt ngoài ống xả và bộ phận truyền động lái dọc bánh xe thứ hai bên trái của ô tô tải; Dấu vết trượt bám dính màng màu xám đen mặt phải vè chắn bùn bánh trước, vết vỡ ốp nhựa phuộc trước bên phải, dấu vết trượt xước bám màng màu đen ở mặt ngoài lốc máy, cong chân phanh và gác chân trước bên phải có chiều từ trước về sau của xe mô tô phù hợp va chạm với mặt ngoài và mặt lăn bánh xe ngoài, bên trái trục thứ 2 xe ô tô tải bồn.

2. Dấu vết mài m n đầu tay cầm, tay côn, cần số bên trái xe mô tô phù hợp va chạm với mặt đường.

3. Cơ chế hình thành dấu vết trên các phương tiện là: Xe mô tô hai bánh, biển số 48D1-296.XX đang lưu thông trên đường Huỳnh Văn Lũy thì va chạm với xe ô tô tải bồn, biển số 61LD-044.XX lưu thông từ đường không tên bên phải (theo hướng từ đường Trần Ngọc Lên về đường Phạm Ngọc Thạch) ra đường Huỳnh Văn Lũy (như mục 1) làm xe mô tô đổ ngã sang trái va chạm với mặt đường (như mục 2) tạo ra các dấu vết trên hai phương tiện, gây ra vụ tai nạn giao thông trên.

Quá trình điều tra, bị đơn dân sự không có ý kiến gì về hành vi phạm tội của bị cáo.

Quá trình điều tra và tại phiên t a, bị cáo B đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến gì về hành vi phạm tội của bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên t a giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Về các vấn đề khác của vụ án:

Quá trình điều tra: Ngày 11/11/2019, bà Nguyễn Thị Tuyết S (là người đại diện hợp pháp của Công ty Trách nhiệm hữu hạn G) và Bùi Ngọc B thỏa thuận bồi thường chi phí điều trị thương tích và chi phí mai táng bị hại Bùi Văn C cho ông Nguyễn Văn B (là người đại diện hợp pháp của gia đình anh C) tổng số tiền là 170.000.000 (Một trăm bảy mươi triệu) đồng. Ngày 15/11/2019, ông B làm Giấy bãi nại và đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Bùi Ngọc B.

Đối với ô tô xi téc (tải bồn) hiệu JAC, tải trọng 196.90 kg, biển số 61LD-044.XX, quá trình điều tra xác định: Chiếc xe ô tô này là của Công ty Trách nhiệm hữu hạn G. Ngày 13/11/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Thủ Dầu Một đã ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số 17/QĐ-CQĐT-ĐTTH để giao trả chiếc xe trên cùng các giấy tờ có liên quan cho bà Nguyễn Thị Tuyết S (là người đại diện hợp pháp của Công ty Trách nhiệm hữu hạn G).

Đối với xe mô tô hiệu Yamaha Exciter 150 biển số 48D1-296.XX của anh Bùi Văn C, chỉ bị hư hại nhẹ và ông Nguyễn Văn B (là người đại diện hợp pháp của gia đình anh Chót) không yêu cầu bồi thường nên ngày 13/11/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một đã ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số 18/QĐ-CQĐT-ĐTTH để giao trả chiếc xe trên cho ông B.

Quá trình điều tra bị đơn dân sự không có ý kiến gì về các vấn đề trên.

Quá trình điều tra và tại phiên t a, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến gì về các vấn đề trên.

- Về trích dẫn cáo trạng của Viện kiểm sát:

Cáo trạng số 161/CT-VKS ngày 08/6/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh B Dương truy tố bị cáo Bùi Ngọc B về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên t a, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Bùi Ngọc B đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Về hình phạt: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng.

Về trách nhiệm dân sự và tang vật vụ án: Đã giải quyết xong.

Quá trình điều tra bị đơn dân sự không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Quá trình điều tra và tại phiên t a, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên t a, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra và tại phiên t a, bị cáo Bùi Ngọc B đã khai nhận: Khoảng 22 giờ cùng ngày 27/9/2019, bị cáo B điều khiển xe ô tô tải biển số 61LD-044.XX lưu thông từ đường nhựa không tên đến giao lộ đường Huỳnh Văn Lũy và đường nhựa không tên thuộc khu phố 6, phường Phú Mỹ, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh B Dương thì gây tai nạn giao thông với xe mô tô biển số 48D1-296.XX do anh Bùi Văn C điều khiển dẫn đến hậu quả anh C tử vong, xe mô tô bị hư hỏng nhẹ. Hành vi của bị cáo đã vi phạm vào khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như cáo trạng truy tố là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Về nhận thức, bị cáo biết việc điều khiển xe ô tô chuyển hướng thiếu quan sát gây nguy hiểm cho người khác là vi phạm pháp luật, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng đến sự hoạt động B thường của các phương tiện tham gia giao thông và có thể xâm phạm đến tính mạng, sức kho của người khác nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo đã gây tai nạn làm bị hại chết, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xử bị cáo một mức án tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo và mọi người khi tham gia giao thông.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo đã bồi thường, khắc phục hậu quả, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nại và đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xét bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú r ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, đại diện hợp pháp cho bị hại có đơn bãi nại và đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên việc không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh ph ng, chống tội phạm. Hội đồng xét xử sẽ áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Nghị quyết số 02/2018/NQ–HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng Thẩm phán T a án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, cho bị cáo hưởng án treo là đã đủ răn đe, giáo dục bị cáo.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt đối với bị cáo tại phiên t a là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Bùi Ngọc B và bị đơn dân sự đã bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 170.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự cũng không có ý kiến và yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã xử lý xong nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1 khoản 2, Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ vào Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 260 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào Nghị quyết số 02/2018/NQ–HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng Thẩm phán T a án nhân dân tối cao về Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T a án.

1. Tuyên bố bị cáo Bùi Ngọc B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Bùi Ngọc B 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày T a tuyên án.

Giao bị cáo Bùi Ngọc B cho Ủy ban nhân dân phường V, thị xã T, tỉnh Bình Dương giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Bùi Ngọc B cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì T a án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

2. Về trách nhiệm dân sự và tang vật: Đã giải quyết xong.

3. Về án phí: Bị cáo Bùi Ngọc B phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày T a tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ