vanban.org

Bản án 142/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hải Dương, tỉnh Hải Dương Tuyên án 10/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung K 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 04/6/2019. Về biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy 0,267g Methamphetamine hoàn lại sau giám định (kèm vỏ bao gói) đựng trong 01 phong bì niêm phong số 227/KLGĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Trung K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 142/2019/HS-ST
Ngày: 10 - 9 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG - TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phùng Thắng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Cư và ông Lê Quang Khỏe.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hải - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Đinh Nguyệt Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2019, tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 130/2019/TLST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 135/2019/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:

NGUYỄN TRUNG K - Sinh năm 1985 tại Hải Dương.

ĐKHKTT: Số 2/125 NLB, phường PNL, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương; Chỗ ở: Không cố định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): lớp 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thanh B và bà Trần Thị Nh; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Vợ: Nguyễn Thị Mai H, sinh năm 1990; Bị cáo có 01 con sinh năm 2010. Tiền án; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/6/2019; chuyển tạm giam từ ngày 07/6/2019 tại Trại tạm giam Kim Chi – Công an tỉnh Hải Dương đến nay (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: Anh Lê Văn Ch, sinh năm 1959 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Khu 10, phường BH, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

+ Anh Lê Văn Th, sinh năm 1991 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Thôn TL, xã NgH, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tại bản cáo trạng số 134/CT-VKSTPHD ngày 14/8/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương truy tố Nguyễn Trung K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự với căn cứ: Vào hồi 22 giờ 30 phút ngày 04/6/2019, tại trước cửa nhà số 30 Nguyễn Trãi, phường Nguyễn Trãi, thành phố Hải Dương, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố Hải Dương bắt quả tang Nguyễn Trung K đang cất giấu trái phép trong túi quần bên phải phía trước đang mặc 02 gói nilon màu trắng, kích thước (1,5 x 1,5) cm/gói, bên trong các gói đều có chứa chất tinh thể màu trắng, K khai nhận là ma túy tổng hợp dạng đá cất giấu để sử dụng. Quá trình bắt giữ có sự chứng kiến của anh Lê Văn Th và ông Lê Văn Ch.

Tại cơ quan điều tra Nguyễn Trung K khai nhận: Do bản thân là người sử dụng chất ma túy tổng hợp dạng đá nên khoảng 22 giờ ngày 04/6/2019, Nguyễn Trung K thuê xe taxi do anh Lê Văn Th điều khiển đi từ khu vực Cầu Cất, phường Lê Thanh Nghị, thành phố Hải Dương đến khu vực đường Nguyễn Trãi, phường Nguyễn Trãi, thành phố Hải Dương. Khi đến đầu đường Nguyễn Trãi, K bảo anh Th chờ còn K đi bộ trên đường Nguyễn Trãi và mua được 02 gói ma túy tổng hợp với số tiền 400.000đ của một người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ), cất vào túi quần bên phải đang mặc rồi quay lại chỗ chỗ anh Th đang đợi. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày khi K đi đến trước cửa số nhà 30 Nguyễn Trãi, phường Nguyễn Trãi, thành phố Hải Dương thì bị Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố Hải Dương kiểm tra, thu giữ trong túi quần bên phải, phía trước K đang mặc có 02 gói nilon màu trắng kích thước (1,5 x 1,5) cm/gói, bên trong các gói đều chứa chất tinh thể màu trắng.

Tại kết luận giám định số 227/KLGĐ-PC09 ngày 07/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng niêm phong trong phong bì ghi thu của Nguyễn Trung K, gửi đến giám định khối lượng là 0,342g là ma túy, loại Methamphetamine.

Methamphetamine nằm trong danh mục II, STT: 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trung K thừa nhận hành vi cất giấu trái phép 02 gói ma túy tổng hợp Methamphetamine để sử dụng cho bản thân như cáo trạng đã nêu. Bị cáo nhất trí với kết luận giám định, thể hiện thái độ ăn năn hối cải và công nhận Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Tranh luận tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa trình bày quan điểm giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố. Trên cơ sở phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu quả, điều kiện, nguyên nhân phạm tội, nhân thân của bị cáo. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung K từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 04/6/2019.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy 0,267g Methamphetamine hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong số 227/KLGĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương.

Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí sơ thẩm hình sự cho bị cáo theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về chứng cứ xác định bị cáo Nguyễn Trung K có tội và áp dụng pháp luật:

Bị cáo Nguyễn Trung K thừa nhận: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 04/6/2019, tại trước cửa số nhà 30 Nguyễn Trãi, phường Nguyễn Trãi, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Trung K có hành vi cất giấu trái phép 0,342g Methamphetamine để sử dụng thì bị Đội cảnh sát điều tra về ma túy - Công an thành phố Hải Dương bắt quả tang thu giữ vật chứng. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, kết luận giám định, biên bản niêm phong, biên bản mở niêm phong vật chứng bị tạm giữ. Các tài liệu, chứng cứ nêu trên phù hợp với các chứng cứ khác như: Bản tự khai của bị cáo, biên bản lấy lời khai bị cáo, biên bản hỏi cung bị cáo, biên bản lấy lời khai của những người làm chứng đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Từ những chứng cứ nêu trên, có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; nhận thức rõ ma túy là chất bị Nhà nước cấm lưu hành nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy là loại Methamphetamine có khối lượng là 0,342g nên bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố và bị đưa ra xét xử về tội danh “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người thực hiện hành vi phạm tội và đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, nhận thức được tác hại của việc tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy nhưng vẫn thực hiện thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Do vậy, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo tác dụng giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung trong xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là cá nhận thuộc diện hộ nghèo, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về biện pháp tư pháp: Đối với vật chứng cơ quan giám định hoàn lại sau giám định, xét thấy Methamphetamine là chất Nhà nước cấm lưu hành, vỏ bao gói không còn giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự .

Về án phí: Bị cáo là cá nhân thuộc hộ nghèo nên được miễn nộp tiền án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố; điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về các vấn đề khác: Anh Lê Văn Th không biết K mua và cất dấu trái phép chất ma túy để sử dụng và không làm rõ được người bán trái phép chất ma túy cho K nên cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm của những người này là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung K 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 04/6/2019.

3. Về biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy 0,267g Methamphetamine hoàn lại sau giám định (kèm vỏ bao gói) đựng trong 01 phong bì niêm phong số 227/KLGĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương.

(Vật chứng trên theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/8/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hải Dương và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hải Dương).

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Trung K được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ