vanban.org

Bản án 142/2018/HSST — Hình sự

TAND Q. Ba Đình, TP. Hà Nội Tuyên án 13/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt : Nguyễn Văn Đ 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/4/2018. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có 0,236 gam Methamphetamine, đã qua giám định có chữ ký của giám định và Nguyễn Văn Đ. (theo biên bản giao nhận vật chứng số 148 ngày 24/7/2018 … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN VĂN ĐOÀN - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản số : 142 /2018/ HSST.
Ngày: 13/8/2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa : Bà Ngô Thị Vân.

Các hội thẩm nhân dân : Bà Nguyễn Thị Thụy.

Bà Trần Thị An.

Thư ký Tòa án: Bà Nguyễn Thị Vân Anh – Cán bộ Tòa án nhân dân Quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa : Ông Trần Quang Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai thụ lý số 145/2018/TLST-HS ngày 26/7/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2018/QĐXXST-HS ngày 30/7/2018, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Đ Sinh năm: 1989.

Nơi sinh : Hà Nội. Đăng ký nhân khẩu thường trú: Đội 8, thôn Y, xã S, huyện B, thành phố H. Nghề nghiệp: không ; Trình độ văn hóa:9/12; Dân tộc : Kinh; Giới tính : Nam; Tôn giáo : Không; Quốc tịch Việt Nam. Con ông : Nguyễn Văn M; con bà : Nguyễn Thị D. Tiền sự: - Tháng 5/2013, UBND xã S xử lý hành chính đưa vào giáo dục tại xã theo Nghị định 111 thời hạn 3 tháng (hết thời hiệu).

Bị cáo bị bắt ngày : 16/4/2018. Có mặt. Người làm chứng : Anh Nguyễn Anh H – sinh 1976 (Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 16/4/2018, Nguyễn Văn Đ điều khiển xe máy Wave BKS: 29P3-5551 đến khu vực phố M phường T, Quận B, Thành phố H để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đầu ngõ 274 phố M, Đ gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy đá giá 300.000 đồng. Mua xong, Đ cất gói ma túy vừa mua được vào trong giày bên phải, rồi điều khiển xe máy đi tìm nơi sử dụng ma túy. Khi Đ đi đến trước cổng công viên Indira Gandhi số 16 L, phường T, Quận B, Thành phố H thì bị tổ công tác công an phường T kiểm tra, phát hiện thu giữ 01 gói ma túy đá tại giày bên phải Đ đang đi. Tổ công tác đã đưa đối tượng cùng tang vật về trụ sở công an phường để làm rõ.

* Vật chứng thu giữ :

- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,236 gam

- 01 xe máy Wave BKS: 29P3-5551 số khung: 359364; số máy: 0359555;

Kết luận giám định số: 3724/KLGĐ-PC54 ngày 26/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội kết luận:

- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,236 gam.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn Đ khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên. Lời khai của bị can phù hợp với lời khai của nhân chứng, sơ đồ bắt giữ, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Đ hiện không xác định được lai lịch địa chỉ nên không có cơ sở để xử lý.

Đối với chiếc xe máy Wave BKS: 29P3-5551, số khung: 359364; số máy: 0359555 qua điều tra là tài sản hợp pháp của anh trai bị cáo là anh Nguyễn Văn T. Anh T không biết việc Đ dùng xe máy đi mua ma túy để sử dụng nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh T. Anh T đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì.

Bản cáo trạng số 146/CT-VKS ngày 18/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân Quận Ba Đình truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội và khai : Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 16/4/2018, Nguyễn Văn Đ điều khiển xe máy Wave BKS: 29P3-5551 đến khu vực đầu ngõ 274 phố M, phường T, Quận B, Thành phố H gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,236 gam, giá 300.000 đồng để sử dụng. Mua xong, Đ cất gói ma túy vừa mua được vào trong giày bên phải, rồi điều khiển xe máy đi tìm nơi sử dụng. Khi Đ đi đến trước cổng công viên Indria Gandhi 16 L, phường T, Quận B, Thành phố H thì bị tổ công tác công an phường T kiểm tra, phát hiện thu giữ 01 gói ma túy đá tại giày bên phải Đ đang đi. Tổ công tác đã đưa đối tượng cùng tang vật về trụ sở công an phường để làm rõ.

Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt từ 15 đến 20 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

- Áp dụng điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự : Tịch thu tiêu hủy 01 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,236 gam.

Đối với chiếc xe máy Wave BKS: 29P3-5551, số khung: 359364; số máy: 0359555 qua điều tra là tài sản hợp pháp của anh trai bị cáo là anh Nguyễn Văn T. Anh T không biết việc Đ dùng xe máy đi mua ma túy để sử dụng nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh T. Nên không yêu cầu Tòa án xem xét xử lý.

Tại phiên tòa Nguyễn Văn Đ, đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã khai tại cơ quan điều tra và lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người làm chứng : Anh Nguyễn Anh H có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, đã trình bày nội dung sự việc và lời khai tại cơ quan điều tra các bút lục từ (43 đến 47) như sau :Khoảng 21 giờ ngày 16.4.2018 khi anh đang ngồi uống nước tại trước cổng Công viên Indira Gandhi 16 L, phường T, Quận B, Thành phố H thì thấy các anh Công an dừng xe một nam thanh niên yêu cầu kiểm tra hành chính tại trước cổng Công viên Indira Gandhi 16 L. Quá trình kiểm tra phát hiện bên trong chiếc giày bên phải của nam thanh niên có 01 túi ni lon màu trắng bên trong có chứa tinh thể màu trắng. Nam thanh niên tự khai nhận là ma túy đá mua về sử dụng. Các anh Công an đã lập biên bản đưa đối tượng cùng tang vật, phương tiện và mời anh về trụ sở Công an chứng kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an Quận B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận B, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay qua xét hỏi Nguyễn Văn Đ đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo là thống nhất với với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, tang vật thu giữ trong vụ án, kết luận giám định của phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội, cùng các tài liệu có trong hồ sơ. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 16/4/2018, tại trước cổng công viên India Gandi, L, phường T, Quận B, thành phố H, Nguyễn Văn Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép 0.236 gam heroin, mục đích để sử dụng, thì bị tổ công tác công an phường T, Quận B kiểm tra phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng. Hành vi trên đây của Nguyễn Văn Đ đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Tính chất vụ án là nghiêm trọng, ma túy là một tệ nạn xã hội nguy hiểm, nó hủy hoại sức khỏe của con người, là nguồn gốc phát sinh ra nhiểu loại tội phạm khác trong xã hội, là nguyên nhân làm lây lan và phát triển căn bệnh thế kỷ HIV-AIDS, làm tan vỡ hạnh phúc của nhiều gia đình có người thân mắc nghiện. Vì những tác hại của ma túy nên Đảng và Nhà nước ta cũng như các Quốc gia khác trên thế giới đều kiên quyết bài trừ ra khỏi đời sống xã hội, pháp luật xử lý rất nghiêm khắc đối với loại tội phạm này. Bản thân bị cáo biết rất rõ tác hại của ma túy và đường lối xử lý của pháp luật, song do coi thường pháp luật, nên bị cáo đã đi vào con đường phạm tội. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy, tiếp tay cho tệ nạn ma túy ngày càng phát triển, gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết và phải có mức hình phạt nghiêm khắc mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Xét nhân thân của bị cáo: Là một công dân song bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện đạo đức nên đã đi vào con đường phạm tội. Nhân thân bị cáo: Tháng 5/2013, UBND xã Sơn Đà xử lý hành chính đưa vào giáo dục tại xã theo Nghị định 111,nhưng bị cáo đã không cai nghiện thành công, thể hiện bị cáo là người có ý thức cải tạo rất kém và rất coi thường pháp luật. Nên cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người tốt.

Tuy nhiên khi lượng hình, tòa có xét đến tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn, thái độ tỏ ra ăn năn hối cải, nên tòa áp dụng điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự để giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

Đối với loại tội này, ngoài hình phạt chính lẽ ra bị cáo còn phải chịu thêm hình phạt bổ sung bằng tiền được quy định tại khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự. Song xét thấy bị cáo không nghề nghiệp, không có thu nhập nên tha miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn Đ gồm: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,236 gam.

Đối với chiếc xe máy Wave BKS: 29P3-5551, số khung: 359364; số máy: 0359555 qua điều tra là tài sản hợp pháp của anh trai bị cáo là anh Nguyễn Văn T. Anh T không biết việc Đ dùng xe máy đi mua ma túy để sử dụng nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh T, nên không xem xét xử lý.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào : - Điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, điều 38, điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt : Nguyễn Văn Đ 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/4/2018.

- Căn cứ điều 106, 135, khoản 2 điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Căn cứ điểm 6.1.2 mục b Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của quốc Hội. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

- Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có 0,236 gam Methamphetamine, đã qua giám định có chữ ký của giám định và Nguyễn Văn Đ. (theo biên bản giao nhận vật chứng số 148 ngày 24/7/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự quận B).

- Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

- Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ