- Tranh chấp gì? án hình sự — "hinh sư - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo P.Q.N. phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 100/2015/QH13 Phê duyệt chủ trương đầu tư các…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 142/2018/HS-ST Ngày: 22/5/2018. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
-Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Quản Văn Tiến
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Mai.
Bà Đặng Thị Ánh.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Như Quỳnh - Kiểm sát viên
Ngày 22 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 145/2018/HSST ngày 07 tháng 5 năm 2018; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149 ngày 08/5/2018, đối với bị cáo:
P.Q.N., sinh năm 1993; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 12, ngõ Hòa Bình 2, phường Minh Khai, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: Lớp 11/12; con ông Phùng Quang Nhân và bà Đỗ Tuyết Sinh; Tiền án: Ngày 06/9/2016 TAND Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm xử phạt 03 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án; Chấp hành xong hình phạt ngày 09/02/2017; Danh chỉ bản số 135 ngày 16/01/2018 do Công an quận Đống Đa lập; Tạm giữ, tạm giam: Bị bắt ngày 15/01/2018, hiện đang tạm giam. Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Anh Phùng Quang Đức (sinh năm 1984, HKTT: Số 12 ngõ Hòa Bình 2, phường Minh Khai, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội). Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo P.Q.N. bị Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Hồi 20h30' ngày 15/01/2018 tổ công tác công an phường Trung Phụng tiến hành kiểm tra hành chính đối với P.Q.N. tại đầu ngõ 136 Đê La Thành, phường Phương Liên, quận Đống Đa, Hà Nội đã phát hiện, tạm giữ trong túi áo khoác bên trái của P.Q.N. đang mặc 01 túi nilon, kích thước khoảng 3x4cm bên trong đựng 25 viên nén hình tròn màu hồng, trên mặt có logo WY. Ngoài ra, cơ quan công an còn tạm giữ của P.Q.N. 01 điện thoại di động Nokia màu tím, bên trong có sim số 01693249381; 01 xe máy điện màu đen, nhãn hiệu XMEN và 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên P.Q.N..
Theo Bản kết luận giám định số 769/KLGĐ-PC54 ngày 23/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự công an Tp Hà Nội kết luận: 25 viên nén hình tròn màu hồng, trên một mặt mỗi viên có in chữ WY đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 2,354 gam.
Tại cơ quan điều tra, P.Q.N. khai: Ngày 14/01/2018 Cương đến nhà P.Q.N. chơi và có nhờ P.Q.N. mua hộ 25 viên hồng phiến. Khoảng 08h00 ngày 15/01/2015 P.Q.N. đến khu vực đầu phố Phương Mai mua của một nam thanh niên không quen biết 25 viên hồng phiến với giá 1.250.000đồng.
Vào khoảng 20h ngày 15/01/2018, Cương điện thoại và hẹn P.Q.N. tại ngã tư Đê La Thành khu vực cắt với mương Cống Trắng để giao ma túy cho Cương. P.Q.N. đồng ý và đi xe máy điện đến điểm hẹn là khu vực đầu ngõ 136 Đê La Thành, phường Phương Liên, quận Đống Đa, Hà Nội để giao ma túy. Khi P.Q.N. dừng xe và điện thoại cho Cương thì bị công an kiểm tra phát hiện, tạm giữ tang vật như đã nêu trên.
Đối với người tên Cương: P.Q.N. khai chỉ biến người thanh niên đó tên Cương và sử dụng số điện thoại 01238319876. Qua xác minh được biết chủ đăng ký số thuê bao trên là Vo Tan Luong, sinh năm 1933; trú tại Hà Nam. Do không có thông tin cụ thể về chủ đăng ký số thuê bên trên nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ được để xử lý.
Đối với nam thanh niên bán ma túy cho P.Q.N.: Do P.Q.N. không biết tên tuổi địa chỉ nơi ở của nam thanh niên đã bán ma túy nên cơ quan điều tra không xác minh, làm rõ được.
Đối với xe máy điện màu đen, nhãn hiệu XMEN, qua xác minh là xe thuộc sở hữu của anh Phùng Quang Đức (sinh năm 1984, HKTT: Số 12 ngõ Hòa Bình 2, phường Minh Khai, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội) là anh trai của P.Q.N.. Anh Đức cho P.Q.N. mượn xe nhưng không biết việc P.Q.N. dùng xe để mua bán trái phép chất ma túy nên cơ quan điều tra đã trao trả xe máy điện cho anh Đức.
Tại bản Cáo trạng số 140/CT-VKSĐĐ ngày 03 tháng 5 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo P.Q.N. về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố P.Q.N. về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo đã đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo từ 52 tháng tù đến 56 tháng tù; Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy là vật chứng vụ án; Tịch thu sung công 01 điện thoại di động; Trả cho bị cáo 01 chứng minh nhân dân mang tên P.Q.N..
Bị cáo không có ý kiến tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào nội dung vụ án, các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên và bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Đống Đa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự và không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định khởi tố, truy tố của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện được coi là hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình đã thực hiện như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, bản kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, nên đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20h30' ngày 15/01/2018 tại khu vực đầu ngõ 136 Đê La Thành, phường Phương Liên, quận Đống Đa, Hà Nội; tổ công tác công an phường Trung Phụng đã kiểm tra, phát hiện P.Q.N. có hành vi tàng trữ trái phép 25 viên nén hình tròn màu hồng, trên một mặt mỗi viên có in chữ WY là ma túy loại Methamphetamine có tổng khối lượng 2,345gam; mục đích để bán với giá 1.500.000đồng. Vì vậy, P.Q.N. đã phạm vào tội Mua bán trái phép trái phép chất ma túy. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà Nước, làm mất trật tự trị an xã hội và là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các hành vi vi phạm pháp luật khác; làm gia tăng tệ nạn ma túy; Bị cáo có nhân thân xấu, có một tiền án chưa được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân lại tiếp tục phạm tội nghiêm trọng với lỗi cố ý nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 53 Bộ luật hình sự; Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc nhằm cải tạo bị cáo và đáp ứng yều cầu đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên, xét bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn; thái độ tỏ ra ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Về vật chứng:
Số ma túy thu của bị cáo là vật chứng của vụ án, thuộc loại Nhà Nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy; Chiếc điện thoại Nokia màu tím bị cáo dùng để liên lạc bán ma túy nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
01 xe máy điện màu đen, nhãn hiệu XMEN, qua xác minh là tài sản của anh Phùng Quang Đức. Anh Đức không biết bị cáo dùng xe để mua bán trái phép chất ma túy nên cơ quan công an đã trả cho Đức xe máy điện trên. Nay không ai có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
Chứng minh thư nhân dân mang tên P.Q.N. là giấy tờ tùy thân nên trả lại bị cáo.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: bị cáo P.Q.N. phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ: khoản 1 Điều 251, Điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 53, Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo P.Q.N. 48 (bốn mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt 15/01/2018.
Căn cứ: Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội (quy định về án phí, lệ phí Tòa án).
Tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký của giám định viên Trần Ngọc Chinh và P.Q.N. trong có 01 túi nilon 25 viên nén hình tròn màu hồng có logo WY là ma túy Methamphetamine, khối lượng 2,354gam; Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại Nokia màu tím, bên trong có sim số 01693249381; Trả lại bị cáo 01 chứng minh thư nhân dân mang tên P.Q.N. (tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng số 122 ngày 03/5/2018 giữa Công an quận Đống Đa với Chi cục thi hành án dân sự quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội phản ánh).
Bị cáo P.Q.N. phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà nội; - VKSND quận Đống Đa; - Công an quận Đống Đa; - Chi cục THA quận Đống Đa; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu HS/VP. Héi thÈm nh©n d©n Nghị quyết về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và hiệu lực thi hành của các bộ luật, luật có liên quan Thứ Tư, 05/07/2017, 17:58:23 Font Size: | Print NDĐT – Ngày 20-6-2017, Nghị quyết số 41/2017/QH14 về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ ba thông qua. Sau đây là toàn văn Nghị quyết: QUỐC HỘI Nghị quyết số:ffffffffffffffffffffffffff NGHĨA 41/2017/QH14 NGHỊ QUYẾT Về việc thi hành Bộ luật đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 QUỐC HỘI Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; QUYẾT NGHỊ: luật có liên quan 1. Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, các bộ luật, luật sau đây có hiệu lực thi hành: a) Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự năm 2015); b) Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13; c) Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13; d) Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13. 2. Các quy định tại Nghị quyết số 110/2015/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2015 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 có ghi thời điểm “ngày 01 tháng 7 năm 2016” được thay thế bằng thời điểm “ngày 01 tháng 01 năm 2018”, thời điểm “ngày 01 tháng 01 năm 2019” được thay thế bằng thời điểm “ngày 01 tháng 01 năm 2020”. Điều 2. Việc áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015 1. Kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, Bộ luật Hình sự năm 2015 được áp dụng như sau: a) Tất cả các điều khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 được áp dụng để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với người thực hiện hành vi phạm tội từ 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018; b) Các điều khoản của Bộ luật Hình sự năm 2015 xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới; miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích; c) Tội phạm mới quy định tại các điều 147, 154, 167, 187, 212, 213, 214, 215, 216, 217, 217a, 218, 219, 220, 221, 222, 223, 224, 230, 234, 238, 285, 291, 293, 294, 297, 301, 302, 336, 348, 388, 391, 393 và 418 của Bộ luật Hình sự năm 2015; các điều luật bổ sung hành vi phạm tội mới, các điều luật quy định một hình phạt mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới; các điều luật quy định hạn chế phạm vi miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác không có lợi cho người phạm tội thì không áp dụng đối với những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích; trong trường hợp này, vẫn áp dụng quy định tương ứng của các văn bản quy phạm pháp luật về hình sự có hiệu lực trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 để giải quyết; d) Quy định tại điểm b và điểm c khoản này cũng được áp dụng đối với các điều luật mới quy định tội được tách ra từ các tội ghép trong Bộ luật Hình sự số 15/1999/QH10 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 37/2009/QH12 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự năm 1999); đ) Các tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”, “số lượng lớn”, “số lượng rất lớn”, “số lượng đặc biệt lớn”, “thu lợi bất chính lớn”, “thu lợi bất chính rất lớn”, “thu lợi bất chính đặc biệt lớn”, “đất có diện tích lớn”, “đất có diện tích rất lớn”, “đất có diện tích đặc biệt lớn”, “giá trị lớn”, “giá trị rất lớn”, “giá trị đặc biệt lớn”, “quy mô lớn” của Bộ luật Hình sự năm 1999 đã được áp dụng để khởi tố bị can trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 thì vẫn áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, trừ trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều này; e) Đối với hành vi hoạt động phỉ quy định tại Điều 83, hành vi đăng ký kết hôn trái pháp luật quy định tại Điều 149, hành vi kinh doanh trái phép quy định tại Điều 159, hành vi cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại Điều 165 của Bộ luật Hình sự năm 1999 xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 mà sau thời điểm đó vụ án đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì tiếp tục áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 để xử lý; trường hợp vụ án đã được xét xử và đã có bản án, quyết định của Tòa án thì không được căn cứ vào việc Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định tội danh hoạt động phỉ, tội danh đăng ký kết hôn trái pháp luật, tội danh kinh doanh trái phép, tội danh cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng để kháng cáo, kháng nghị theo hướng không phạm tội. Trường hợp người bị kết án đang chấp hành án về tội hoạt động phỉ, tội đăng ký kết hôn trái pháp luật, tội kinh doanh trái phép, tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã chấp hành xong bản án thì vẫn áp dụng quy định tương ứng của các văn bản quy phạm pháp luật về hình sự có hiệu lực trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 để giải quyết; nếu sau thời điểm 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 mới bị phát hiện thì không khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội hoạt động phỉ quy định tại Điều 83, tội đăng ký kết hôn trái pháp luật quy định tại Điều 149, tội kinh doanh trái phép quy định tại Điều 159, tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại Điều 165 của Bộ luật Hình sự năm 1999 mà áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về các tội danh tương ứng để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử; g) Đối với những hành vi phạm tội đã có bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018 thì không được căn cứ vào những quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 có nội dung khác so với các điều luật đã được áp dụng khi tuyên án để kháng nghị giám đốc thẩm; trường hợp kháng nghị dựa vào căn cứ khác hoặc đã kháng nghị trước ngày 01 tháng 01 năm 2018 thì việc xét xử giám đốc thẩm phải tuân theo quy định tại điểm b và điểm c khoản này; h) Các quy định về trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại tại Bộ luật Hình sự năm 2015 không áp dụng đối với những hành vi phạm tội của pháp nhân thương mại xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2018; i) Trường hợp chất thu giữ được nghi là chất ma túy ở thể rắn đã được hòa thành dung dịch, chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng, xái thuốc phiện hoặc thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần quy định tại các điều 248, 249, 250, 251 và 252 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì phải xác định hàm lượng chất ma túy làm cơ sở để xác định khối lượng hoặc thể tích chất ma túy thu giữ được. Đối với các trường hợp khác thì thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13. 2. Kể từ ngày Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 (sau đây gọi là Luật số 12/2017/QH14) được công bố, tiếp tục thực hiện các quy định sau đây: a) Không áp dụng hình phạt tử hình khi xét xử người phạm tội mà Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bỏ hình phạt tử hình hoặc đối với người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử; b) Hình phạt tử hình đã tuyên đối với người thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này nhưng chưa thi hành án thì không thi hành và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chuyển hình phạt tử hình thành hình phạt tù chung thân; c) Đối với người đã bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành án mà có đủ các điều kiện quy định tại điểm c khoản 3 Điều 40 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì không thi hành án và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chuyển hình phạt tử hình thành hình phạt tù chung thân; d) Không xử lý về hình sự đối với người thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định là tội phạm nhưng Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định là tội phạm, bao gồm: tảo hôn; báo cáo sai trong quản lý kinh tế; vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp; sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng; không chấp hành các quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, quản chế hành chính; hành vi theo Bộ luật Hình sự năm 1999 (được hướng dẫn thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật) là tội phạm nhưng do có sửa đổi, bổ sung, thay đổi các yếu tố cấu thành tội phạm nên hành vi đó không cấu thành tội phạm nữa. Nếu vụ án đã khởi tố, đang điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ; trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại; trường hợp người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt; đ) Đối với các trường hợp đã áp dụng quy định có lợi của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 theo Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29 tháng 6 năm 2016 của Quốc hội về việc lùi hiệu lực thi hành của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử mà Luật số 12/2017/QH14 không quy định là tội phạm nữa: nếu vụ án đã khởi tố, đang điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ; trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại; trường hợp người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt; e) Không xử lý về hình sự đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi về tội phạm không được quy định tại khoản 2 Điều 12 và khoản 3 Điều 14 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đối với người thực hiện hành vi chuẩn bị phạm các tội mà không được quy định tại khoản 2 Điều 14 của Bộ luật Hình sự năm 2015; nếu vụ án đã khởi tố, đang điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ; trường hợp người đó đã bị kết án và đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại; trường hợp người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn chấp hành hình phạt thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt; g) Người đã chấp hành xong hình phạt hoặc được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt hoặc phần hình phạt còn lại theo quy định tại các điểm d, đ và e khoản này thì đương nhiên được xóa án tích; h) Thực hiện các quy định tại khoản 3 Điều 7 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b khoản 1 Điều này; i) Áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13 để thi hành quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và các quy định khác của Bộ luật Hình sự năm 2015 có lợi cho người phạm tội. Điều 3. Quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành 1. Giao Chính phủ, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, quy định chi tiết về các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự quy định tại Mục 2 Chương XII của Bộ luật Hình sự năm 2015; quy định về việc định giá đối với hàng hóa Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng hoặc hàng hóa chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam; quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại điểm k khoản 2, điểm e khoản 3, điểm đ khoản 4 Điều 248, điểm i khoản 1, điểm n khoản 2, điểm h khoản 3, điểm h khoản 4 Điều 249, điểm i khoản 1, điểm o khoản 2, điểm h khoản 3, điểm h khoản 4 Điều 250, điểm p khoản 2, điểm h khoản 3, điểm h khoản 4 Điều 251 và điểm i khoản 1, điểm n khoản 2, điểm h khoản 3, điểm h khoản 4 Điều 252 của Bộ luật Hình sự năm 2015. 2. Giao Tòa án nhân dân tối cao thông qua tổng kết việc áp dụng pháp luật, giám đốc việc xét xử bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử các quy định về “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”, “số lượng lớn”, “số lượng rất lớn”, “số lượng đặc biệt lớn”, “giá trị lớn”, “giá trị rất lớn”, “giá trị đặc biệt lớn”; khi cần thiết, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử các điều, khoản, điểm khác trong Bộ luật Hình sự năm 2015. 3. Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, phối hợp tổ chức rà soát các văn bản có liên quan để kịp thời hủy bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới hoặc đề nghị Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội hủy bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới văn bản quy phạm pháp luật cho phù hợp với quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015. 4. Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận tuyên truyền, phổ biến rộng rãi Bộ luật Hình sự năm 2015 trong Nhân dân, cán bộ, công chức và viên chức, nhằm góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, phát huy tác dụng của Bộ luật này trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Điều 4. Hiệu lực thi hành 1. Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 05 tháng 7 năm 2017. 2. Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2015 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 và Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29 tháng 6 năm 2016 của Quốc hội về việc lùi hiệu lực thi hành của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 hết hiệu lực kể từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành. Điều 5. Quy định chuyển tiếp và trách nhiệm thi hành 1. Kể từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành cho đến khi Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13 và Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13 có hiệu lực thi hành theo quy định tại Điều 1 của Nghị quyết này, tiếp tục áp dụng Bộ luật Tố tụng Hình sự số 19/2003/QH11, Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự số 23/2004/PL-UBTVQH11 được sửa đổi, bổ sung một số UBTVQH12. 2. Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, chịu trách nhiệm thi hành Nghị quyết này. --------------------------------- Nghị quyết này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20 tháng 6 năm 2017. fffffffffffffffffffff fffffffffffffffffff | thÈm ph¸n - chñ to¹ phiªn toµ Quản Văn Tiến ThÈm ph¸n - chñ to¹ phiªn toµ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Hình sự số 100/2015/QH13 Điều 1. Về hiệu lực thi hành của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 và các bộ luật, điều theo Pháp lệnh số 30/2006/PL-UBTVQH11 và Pháp lệnh số 09/2009/PL- CHỦ TỊCH QUỐC HỘI (đã ký) Nguyễn Thị Kim Ngân |