vanban.org

Bản án 142/2017/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Nghệ An Tuyên án 28/12/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên ố ị cáo Trần Dương T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Miễn hình phạt ổ sung cho ị cáo Trần Dương T. Về vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Dương T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên ố ị cáo Trần Dương T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 142/2017/HSST
Ngày 28/12/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đăng Phồn

Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Hường

Ông Hồ Viết T

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trà Giang – Thẩm tra viên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: bà Lê Thị Vân Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 28/12/2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 160/2017/HSST ngày 17 tháng 11 năm 2017 đối với ị cáo c h và tên như sau:

Trần Dương T; tên g i khác: Không; sinh ngày 10/9/1979; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở : 2/194 P, phường PV, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn h a: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Đạo phật; Con ông Trần P (Chết) và à Dương Thị Kim Q, sinh năm 1952; Anh chị em ruột c 05 người, ị cáo là con thứ 3; Vợ 1 Phạm Thị Hồng P (đã ly hôn), vợ 2 Trần Thị Thùy T, sinh năm 1990 và có 02 con; Tiền sự: Không; Tiền án: Năm 2014 ị TAND thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 02 năm 6 tháng tù về tội « Mua án trái phép chất ma túy » theo ản án số 04/2014/HSST ngày 05/3/2014, chấp hành xong hình phạt vào ngày 11/10/2015. Nhân thân : năm 1996: có hành vi « Cố ý gây thương tích », tháng 12/1996 ị công an quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo. Năm 1997 c hành vi « Trộm cắp tài sản », tháng 4/1997 ị Công an thành phố Huế xử phạt hành chính ằng hình thức cảnh cáo. Năm 2003 ị Tòa án nhân tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 02 năm 6 tháng tù về tội «Mua án trái phép chất ma túy» theo ản án số 07/HSST ngày 17/01/2003 ; Chấp hành xong hình phạt vào ngày 29/8/2004. Bị cáo ị ắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/7/2017, đến nay c mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Trần Dương T ị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào lúc 10 giờ 30 phút ngày 20/7/2017 tại đoạn đường Quốc lộ 48 thuộc khối 1, thị trấn K, huyện Q, tỉnh Nghệ An tổ công tác Công an huyện Q tiến hành kiểm tra hành chính đối với Trần Dương T, sinh năm 1979 tại thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế đang c hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi xách màu nâu ở cạnh phía trước nơi Trần Dương T ngồi 01 túi ni lông màu đen ên trong đựng nhiều cục chất ột màu trắng nghi hêrôin. Quá trình điều tra Trần Dương T khai nhận: Do c quen iết với Vi Văn N ( ạn tù) ở xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An từ trước nên ngày 19/7/2017 T điện thoại cho N đặt vấn đề mua 20.000.000đ hêrôin về để sử dụng. N đồng ý và thỏa thuận giao dịch với T tại thị trấn K, huyện Q. Tối 19/7/2017 T ắt xe từ Huế vào Vinh lúc 4 giờ sáng ngày 20/7/2017 và tiếp tục ắt xe lên Q. Đến khoảng 8 giờ sáng T lên đến Q và g i điện cho N. N hẹn T vào quán cà phê Nhật Minh tại thị trấn K chờ N. Khoảng 15 phút sau N đến ngõ hẻm sát quán cà phê Nhật Minh, g i T ra để giao dịch mua bán ma túy. N giao cho T 01 gói ni lông màu đen chứa ma túy. T cất g i đ vào túi xách c quai màu nâu của T, đồng thời đưa cho N 20.000,000đ. Giao dịch mua án xong cả hai vào quán cà phê ngồi uống nước. Khi N ngồi uống nước T vào nhà vệ sinh lấy một ít ma túy sở dụng ằng hình thức chích. Sử dụng xong T tiếp tục cất số ma túy còn lại vào trong túi xách màu nâu rồi ắt xe khách để về. Khi lên xe khách T để chiếc túi da nâu đựng ma túy trước ghế phụ nơi T ngồi. Xe tiếp tục ắt khách, T để chiếc túi nguyên vị trí nhờ lái xe trông hộ và xuống xe uống nước trước cổng Tòa án nhân dân huyện Q. Khoảng 15 phút sau, xe quay lại đ n T. Khi xe khách đến địa phận đường Quốc Lộ 48 thuộc khối 1 thị trấn K, huyện Q thì Công an huyện Q ra hiệu lệnh dừng xe, kiểm tra và phát hiện trước ghế T ngồi c 01 túi xách quai màu nâu sẫm, trong đ c một túi ni lông màu đen chứa các cục chất ột màu trắng (nghi hêrôin).

Tại ản kết luận giám định số 846/KL- PC 54 (MT) ngày 27/7/2017 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “Mẫu chất ột màu trắng thu giữ của Trần Dương T gửi giám định là ma túy (Hêrôin). Các cục chất ột màu trắng thu giữ của Trần Dương T c tr ng lượng là 52,20g”

Vật chứng thu giữ trong vụ án:

- Một phong ì thư được niêm phong ên trong đựng 51,2g hêrôin (đã lấy đi 1gam hêrôin để giám định);

- 01 túi xách màu nâu sẫm c quai đeo, đã qua sử dụng;

- 01 chiếc điện thoại di dộng nhã hiệu Landrdver màu đen đã qua sử dụng;

- 04 chiếc ơm kim tiêm, 01 l nước cất.

- 01 điện thoại Iphone đã trả cho ị cáo.

Với nội dung trên, Bản cáo trạng số: 161/VKS- P1 ngày 15 tháng 11 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An quyết định truy tố ị cáo Trần Dương T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện VKSND tỉnh Nghệ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của ị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm b khoản 3 Điều 194; Điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 49 Bộ luật hình sự, xử phạt Trần Dương T từ 12 năm đến 13 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt ổ sung đối với ị cáo do ị cáo c hoàn cảnh kh khăn.

Vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn ộ số ma túy thu giữ trong quá trình điều tra.

Bị cáo Trần Dương T không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho ị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, ị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu c trong hồ sơ vụ án

đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại phiên tòa hôm nay, hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều đã được an hành và thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục tố tụng và hoàn toàn hợp pháp theo quy định của Bộ luật tố tụng hiện hành.

Tại phiên tòa, ị cáo Trần Dương T thừa nhận toàn ộ hành vi phạm tội như nội dung ản Cáo trạng. Lời khai của ị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của ị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án. Như vậy, c đủ cơ sở kết luận: Ngày 19/7/2017, Trần Dương T đi từ Huế đến huyện Q, tỉnh Nghệ An mua của một người tên N 01 gói Hêrôin với giá 20.000.000đ về để sử dụng. Ngày 20/7/2017, trên đường T mang ma túy về nhà, khi đến thị trấn K, huyện Q, tỉnh Nghệ An thì ị công an phát hiện, ắt qủa tang cùng 52,20 gam Hêrôin trong túi xách của T. Hành vi nêu trên của ị cáo Trần Dương T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm khoản 3 Điều 194 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố ị cáo là c căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét hành vi của ị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vụ án thuộc trường hợp rất nghiêm tr ng, tội phạm ma túy gây tác hại nghiêm tr ng đến trật tự an ninh xã hội, gây suy thoái giống nòi, phá hoại hạnh phúc và kinh tế gia đinh, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất gây nghiện. Bị cáo nhân thân xấu, có 01 tiền án chưa được x a án tích nay lại phạm tội mới nên thuộc trường hợp tái phạm.Vì vậy cần c mức án nghiêm và cách ly ị cáo ra khỏi xã hội trong thời gian đủ dài, đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa người phạm tội và giáo dục chung.

Tuy nhiên cũng cần xem xét cho ị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay ị cáo khai áo thành khẩn, ăn năn hối cải. Khung hình phạt quy định tại khoản 3 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999 là từ 15 năm đến 20 năm. Căn cứ vào điểm khoản 3 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thì mức hình phạt là từ 10 đến 15 năm tù; khoản 3 điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 cũng quy định: “Điều luật x a ỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn c điều kiện, x a án tích và quy định khác c lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đ c hiệu lực thi hành”. Hội đồng xét xử áp dụng những quy định c lợi này cho ị cáo được hưởng và xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho ị cáo để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không c thu nhập ổn định, không c tài sản gì nên không áp dụng hình phạt ổ sung đối với ị cáo.

Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra thu giữ một phong ì thư được niêm phong ên trong đựng 51,20 gam hêrôin (đã lấy đi 1gam hêrôin để giám định); 01 túi xách màu nâu sẫm c quai đeo, đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Landrdver màu đen đã qua sử dụng; 04 chiếc ơm kim tiêm, 01 l nước cất. Căn cứ Điều 41 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 51,20 gam Hêrôin tiêu hủy và tịch thu hóa giá 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Landrver màu đen đã qua sử dụng để sung quỹ.

Ngoài ra, còn c 01 điện thoại di động Iphone màu trắng thu giữ của ị cáo, do không liên quan đến vụ án, Cơ quan điều tra đã trả cho ị cáo (vợ ị cáo nhận) là đúng pháp luật (Bút lục 54, 55) Tòa miễn xét.

Án phí: Buộc ị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên ố ị cáo Trần Dương T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng Điểm b khoản 3 điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46, Điều 49; Điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự 1999; điểm khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt ị cáo Trần Dương T 12 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày ị tạm giữ, tạm giam 20/7/2017.

Miễn hình phạt ổ sung cho ị cáo Trần Dương T.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 51,20 gam Hêrôin;

- Tịch thu tiêu hủy: 01 túi xách màu nâu sẫm, 04 chiếc ơm kim tiêm, 01 l nước cất.

- Tịch thu, h a giá sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Landrver màu đen đã qua sử dụng thu giữ của ị cáo.

Tình trạng, đặc điểm vật chứng được thể hiện tại iên ản giao nhận vật chứng ngày 17/11/2017 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Cục thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An.

Về án phí: Áp dụng điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 về án, lệ phí Tòa án uộc ị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Trần Dương T c quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ