vanban.org

Bản án 141/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 10/08/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn C 03 năm 09 tháng tù (ba năm chín tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày 06-3-2026. Biện pháp tư pháp: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn C - Tàng trữ ma túy - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 - NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 141/2026/HS-ST
Ngày: 10-8-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trịnh Thị Lan

Ông Đỗ Quang Chung

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Kiên - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình tham gia phiên toà:

Tại điểm cầu trung tâm: Ông Trần Quang T - Kiểm sát viên.

Tại điểm cầu thành phần: Ông Trần Văn Đ - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 8 năm 2026 Tòa án nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến, có ghi âm, ghi hình phiên tòa qua hệ thống phần mềm phiên tòa trực tuyến (điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Ninh Bình; điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam số 3 Công an tỉnh N) vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 117/2026/TLST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2026/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn C, sinh ngày 14 tháng 02 năm 1982 tại: Tỉnh Ninh Bình; số căn cước công dân: 036082049820 cấp ngày 26-01-2022; nơi đăng ký thường trú: Số A đường H, phường N, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Số I đường P, phường N, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Tuấn C1 và bà Trần Thị N; không có vợ, con; tiền án: Ngày 28-3-2022 bị Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 03 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 16-4-2025; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 11-5-2004 Chủ tịch UBND tỉnh N ra quyết định đưa vào cơ sở giáo dục, thời hạn 24 tháng; ngày 27-4-2007 Chủ tịch UBND tỉnh N ra quyết định đưa vào cơ sở giáo dục, thời hạn 24 tháng; ngày 23-9-2009 bị Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; ngày 28-6-2012 bị Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06-3-2026, chuyển tạm giam từ ngày 15-3-2026 cho đến nay tại Trại tạm giam số 3 - Công an tỉnh N. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 05-3-2026, khi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N thực hiện khám xét khẩn cấp chỗ ở của đối tượng Trần Văn H, sinh năm 1982, tại địa chỉ: Đường T, tổ dân phố L, phường N, tỉnh Ninh Bình (là đối tượng trong vụ án mua bán trái phép chất ma túy) thì phát hiện Trần Văn C đang ở nhà Trần Văn H. Trần Văn C tự khai nhận không liên quan đến hành vi phạm tội của Trần Văn H, nhưng bản thân là người nghiện ma túy, hiện đang cất giấu 01 gói Heroine ở nhà mình, mục đích để sử dụng.

Cơ quan điều tra tiến hành đã khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Văn C tại địa chỉ: Số I đường P, phường N, tỉnh Ninh Bình. Kết quả khám xét đã thu giữ tại ngăn số 2 tủ quần áo kê tại tầng 01 của căn nhà 01 (một) gói ni-long màu trắng, kích thước 4x7cm, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng, niêm phong ký hiệu C1.

Cơ quan điều tra đã thu giữ mẫu nước tiểu của Trần Văn C, niêm phong ký hiệu C2.

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định đối với vật chứng đã thu giữ:

- Tại Bản kết luận giám định số 1293/KL-KTHS ngày 13-3-2026 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng, được niêm phong mã số PS3 24295809 (C1) có khối lượng 0,354gam, là ma túy, loại Heroine. Sau khi giám định, Phòng K niêm phong vật chứng vào túi niêm phong dán kín, mã số PS3 24295852.

- Tại Bản kết luận giám định số 1294/KL-KTHS ngày 13-3-2026 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Có tìm thấy chất Methamphetamine trong 01 mẫu nước tiểu thu của Trần Văn C, được niêm phong ký hiệu C2 gửi giám định.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Văn C khai nhận: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 04-3-2026, Trần Văn C đi đến khu vực ngõ F đường P, phường N, tỉnh Ninh Bình rồi mua của người đàn ông tên H1 (không rõ lai lịch, địa chỉ) 01 gói Heroine với giá 700.000 đồng, rồi mang về nhà cất giấu trong ngăn kéo tủ quần áo với mục đích để sử dụng dần. Ngoài ra, trước đó vào ngày 28-02-2026, tại nhà ở của mình, Trần Văn C đã sử dụng ma túy "đá" được Trần Hữu C2 cho vào khoảng tháng 01/2026. Sau khi sử dụng ma túy, Trần Văn C đã vứt các dụng cụ dùng để sử dụng ma túy vào túi rác nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh và xác định đối tượng Trần Hữu C2 đã chết vào cuối tháng 01/2026 nên không có căn cứ xử lý.

Bản cáo trạng số 51/CT-VKS-KV7 ngày 16-6-2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình truy tố bị cáo Trần Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn C đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân như bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo không khai thêm tình tiết nào mới và tỏ ra ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Trần Văn C tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình giữ nguyên nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm r,s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025): Xử phạt bị cáo Trần Văn C từ 03 năm 09 tháng tù đến 04 năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) để tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã thu giữ.

- Án phí: Buộc bị cáo Trần Văn C phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

- Tuyên quyền kháng cáo của bị cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Trần Văn C không có ý kiến tranh luận gì.

Bị cáo Trần Văn C nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn C không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Văn C trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản khám xét ngày 05-3-2026; biên bản niêm phong tài liệu, đồ vật bị tạm giữ ngày 05-3-2026; biên bản thu và niêm phong mẫu nước tiểu ngày 05-3-2026; bản kết luận giám định số 1293/KL-KTHS ngày 13-3-2026 và bản kết luận giám định số 1294/KL-KTHS ngày 13-3-2026 của Phòng K Công an tỉnh N; lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 05-3-2026, tại nơi ở của mình, địa chỉ: Số I đường P, phường N, tỉnh Ninh Bình, bị cáo Trần Văn C đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,354 gam Heroine để sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.

Hành vi của bị cáo Trần Văn C là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy bị cáo Trần Văn C đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình đối với bị cáo Trần Văn C là có căn cứ và đúng pháp luật.

Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Trần Văn C tự thú về hành vi phạm tội của mình; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên sẽ được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Bị cáo Trần Văn C đã bị kết án về tội nghiêm trọng vào năm 2022, chưa được xóa án tích, nay lại phạm tội nghiêm trọng do cố ý nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn C là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự, bản thân bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng nhiều lần bị đưa ra xét xử nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, với mức hình phạt tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung. Mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo.

Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy bị cáo Trần Văn C không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về các biện pháp tư pháp:

Số ma túy Heroine thu giữ của bị cáo Trần Văn C là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên sẽ tịch thu, tiêu hủy.

Về án phí:

Bị cáo Trần Văn C bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm r,s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Xử phạt bị cáo Trần Văn C 03 năm 09 tháng tù (ba năm chín tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày 06-3-2026.

2. Biện pháp tư pháp:

- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025);

- Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ trong 01 (một) túi niêm phong ký hiệu PS3 24295852 được niêm phong dán kín, mặt trước có ghi “Số 1293/KL-KTHS. Mẫu vật hoàn trả PS3 24295809” được niêm phong bởi 04 (bốn) hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh N, có chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định.

(Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 20-3-2026).

3. Án phí:

- Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025);

- Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Trần Văn C phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

- Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Bị cáo Trần Văn C có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 thì bị cáo Trần Văn C có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 36, Điều 72 của Luật Thi hành án dân sự năm 2025. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 của Luật Thi hành án dân sự năm 2025.

Cỡ chữ