vanban.org

Bản án 141/2026/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Gia Lai Tuyên án 18/09/2026 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 18/09/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Điểm c khoản 2 Điều 327; điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự. Điểm khoản 2 Điều 136; điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Thi V - chứa mại dâm (điều 327 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 327 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 141/2026/HS-PT
Ngày : 18 - 9 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Văn Thanh Gia

Các Thẩm phán: Bà Đinh Thị Như Phượng

Bà Đỗ Thị Thắm

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Kiều Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm trực tiếp công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 163/2026/TLPT-HS ngày 20 tháng 7 năm 2026 đối với bị cáo Nguyễn Thị Vân do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 91/2026/HSST ngày 05 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 7- Gia Lai.

Bị cáo có kháng cáo:

NGUYỄN THỊ VÂN, sinh năm: 1981 tại Thanh Hóa; Căn cước công dân: 038181017468; Nơi cư trú: Thôn Phú Mỹ, xã Ia Tôr, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Lễ tân khách sạn; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Bá Ngôi, sinh năm: 1952; Con bà: Lê Thị Quế, sinh năm 1956; chồng: Trần Thọ Dũng (chết), con: 03 người con lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm: 2013; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/9/2025 đến ngày 05/01/2026. Áp dụng biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, trong vụ án này còn có các bị cáo Lê Anh Ngọc, Đinh Thị Mỹ Linh không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngọc Sê (viết tắt là Công ty Ngọc Sê), địa chỉ: 133 đường Nguyễn Tất Thành, Tổ 4 Phù Đổng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai do ông Thiều Ngọc Sê làm chủ sở hữu và người đại diện theo pháp luật. Công ty Ngọc Sê đăng ký ngành nghề kinh doanh dịch vụ lưu trú tại khách sạn Ngọc Sê. Ông Sê giao cho ông Thiều Ngọc Xuân (sinh năm 1994, là con trai ông Sê) và bà Đinh Thị Bích Diễm (sinh năm 1995, là vợ của Xuân) quản lý khách sạn Ngọc Sê. Tháng 12/2024, Nguyễn Thị Vân ký hợp đồng lao động với Công ty Ngọc Sê, làm nhiệm vụ là nhân viên lễ tân của khách sạn Ngọc Sê. Lê Anh Ngọc là nhân viên bảo vệ của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Dịch vụ Bảo vệ An ninh Nhân Việt TC (sau đây viết tắt là Công ty Nhân Việt, địa chỉ tại số 46 đường Lý Nam Đế, phường Hội Phú, Gia Lai) do ông Nguyễn Xuân Thành (sinh năm 1958, trú tại Tổ 4 Thắng Lợi, phường An Phú, tỉnh Gia Lai) làm người đại diện theo pháp luật; từ tháng 12/2024, Ngọc được Công ty Nhân Việt phân công làm nhiệm vụ bảo vệ tại khách sạn Ngọc Sê, theo hợp đồng dịch vụ bảo vệ được ký kết giữa Công ty Ngọc Sê và Công ty Nhân Việt.

Quá trình làm việc tại khách sạn Ngọc Sê, Lê Anh Ngọc quen biết, có được số điện thoại di động của một số gái bán dâm và có được số điện thoại di động 0794.501.663 của một đối tượng nữ, số điện thoại di động 0387.988.724 của một đối tượng nam, là những người có quen biết nhiều gái bán dâm. Ngọc lưu số điện thoại 0794.501.663 trong điện thoại di động của mình với tên “(A)gái Chủ” và số điện thoại 0387.988.724 với tên “(A)anh Chủ”. Nhận thấy có nhiều khách đến thuê phòng tại khách sạn Ngọc Sê có nhu cầu mua dâm và việc quản lý tại khách sạn không chặt chẽ và ca trực đêm chỉ có Ngọc và Nguyễn Thị Vân nên từ khoảng tháng 01/2025 Ngọc nảy sinh ý định môi giới mại dâm để thu lợi. Ngọc thoả thuận với các gái bán dâm như sau: Khi Ngọc nhận được yêu cầu mua dâm từ khách đến khách sạn Ngọc Sê lưu trú, Ngọc sẽ liên lạc với gái bán dâm đến khách sạn để bán dâm; nếu khách ngủ qua đêm với gái bán dâm giá 2.000.000 đồng, thì Ngọc sẽ được gái bán dâm chia 500.000 đồng; nếu khách mua dâm 01 lần giá 700.000 đồng, thì Ngọc sẽ được gái bán dâm chia 200.000 đồng. Ngọc nhận tiền mặt từ gái bán dâm và không ghi sổ sách để theo dõi.

Nguyễn Thị Vân không tham gia việc môi giới mại dâm với Ngọc, không hưởng lợi từ tiền mua bán dâm, nhưng khi khách có nhu cầu mua dâm và hỏi Vân

- là nhân viên lễ tân, thì Vân chỉ sang Ngọc rồi để mặc cho Ngọc thực hiện hành vi môi giới mại dâm tại khách sạn Ngọc Sê trong ca làm việc của Vân, nhằm tăng doanh thu tiền thuê phòng. Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 07/9/2025, Phan Văn Tuấn (sinh năm 2002, trú Thôn 5, xã Đak Đoa, tỉnh Gia Lai) đến quầy lễ tân khách sạn Ngọc Sê gặp Nguyễn Thị Vân thuê phòng và hỏi Vân có gái bán dâm không. Biết Tuấn có nhu cầu mua dâm, nên Vân nói Tuấn hỏi chú bảo vệ đồng thời gọi Lê Anh Ngọc vào quầy lễ tân. Qua trao đổi, Ngọc nói Tuấn thuê phòng trước, gái bán dâm sẽ đến sau; giá mua bán dâm qua đêm là 2.000.000 đồng, thì Tuấn đồng ý. Tuấn hỏi giá thuê phòng thì Vân nói 500.000 đồng, gồm 300.000 đồng tiền phòng và 200.000 đồng tiền đặt cọc; Tuấn đồng ý thuê phòng và trả tiền cho Vân, Vân đưa chìa khóa phòng 407 cho Tuấn. Sau khi thỏa thuận với Tuấn xong, Ngọc gọi điện thoại cho Đinh Thị Mỹ Linh thông báo có khách đi qua đêm (mua dâm qua đêm) với giá 2.000.000 đồng, thì Linh đồng ý sẽ đến khách sạn Ngọc Sê để bán dâm.

Khoảng 22 giờ ngày 07/9/2025, Võ Tấn Huy (sinh năm 2003, trú Thôn 3, xã Chư Păh, tỉnh Gia Lai) đến quầy lễ tân khách sạn Ngọc Sê gặp Nguyễn Thị Vân thuê phòng và hỏi Vân có gái bán dâm không. Như lần trước, Vân gọi Lê Anh Ngọc vào quầy lễ tân; qua trao đổi với Ngọc, Huy đồng ý giá mua bán dâm qua đêm là 2.000.000 đồng, đồng thời cho Ngọc 200.000 đồng để Ngọc chọn gái bán dâm đẹp. Sau đó, Vân thu của Huy 500.000 đồng tiền phòng và đưa cho Huy chìa khóa phòng 204. Thỏa thuận với Huy xong, Ngọc gọi điện thoại cho Đinh Thị Mỹ Linh hỏi có gái bán dâm khác hay không, có khách khác đi qua đêm cũng với giá 2.000.000 đồng; Linh đồng ý và nói sẽ gọi bạn (gái bán dâm khác) đến bán dâm. Ngay sau đó, Linh gọi qua ứng dụng Zalo cho Nguyễn Ngọc Trâm (sinh năm 1994, trú số 02/23 đường Phan Đình Phùng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai) thông báo có khách mua dâm qua đêm tại khách sạn Ngọc Sê, thì Trâm đồng ý đi bán dâm theo giới thiệu của Linh.

Khoảng 22 giờ 10 phút ngày 07/9/2025, Đinh Thị Mỹ Linh đến khách sạn Ngọc Sê; Lê Anh Ngọc hướng dẫn Linh lên phòng 407 để bán dâm và tự lấy tiền bán dâm là 2.000.000 đồng. Linh lên phòng 407 gặp Phan Văn Tuấn, yêu cầu Tuấn chuyển tiền mua dâm qua đêm là 2.000.000 đồng cho Linh qua tài khoản số 0974856892, mang tên NGUYEN NGOC TRAM, tại Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Đông (OCB), rồi Linh và Tuấn quan hệ tình dục với nhau. Khoảng 10 phút sau, Nguyễn Ngọc Trâm đến khách sạn Ngọc Sê thì được Ngọc hướng dẫn lên phòng 204 để bán dâm. Trâm gọi điện thoại cho Linh hỏi giá bán dâm, nhưng Linh không nghe máy nên Trâm tự thỏa thuận với Huy giá bán dâm qua đêm là 2.000.000 đồng. Huy lấy số tiền 2.000.000 đồng đưa cho Trâm, rồi Huy và Trâm quan hệ tình dục với nhau

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 07/9/2025, Lê Quý Thế (sinh năm 2003, trú làng Út 1, xã Ia Hrung, tỉnh Gia Lai) đến quầy lễ tân khách sạn Ngọc Sê gặp Nguyễn Thị Vân thuê phòng và hỏi Vân có gái bán dâm không. Như các lần trước, Vân gọi Lê Anh Ngọc vào quầy lễ tân; qua trao đổi với Ngọc, Thế đồng ý giá mua bán dâm qua đêm là 2.000.000 đồng. Vân thu tiền phòng của Thế 500.000 đồng và đưa cho Thế chìa khóa phòng 202. Thỏa thuận với Thế xong, Ngọc gọi cho đối tượng nữ đã được lưu trong điện thoại di động tên “(A)gái Chủ” đề nghị cho 01 gái bán dâm đến khách sạn Ngọc Sê để bán dâm qua đêm, thì người này đồng ý. Một lúc sau, Nguyễn Trần Hạ Vy (sinh năm 2000, trú số 02/23 đường Phan Đình Phùng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai) nhận được cuộc gọi từ số điện thoại 0387.988.724 của đối tượng được Vy lưu tên “Mướp”, nói Vy đến khách sạn Ngọc Sê bán dâm qua đêm, thì Vy đồng ý. Vy đến khách sạn Ngọc Sê, thì được Ngọc hướng dẫn lên phòng 202 để bán dâm. Khi vào phòng 202, Vy đề nghị Thế thanh toán tiền trước thì Thế đưa cho Vy 1.000.000 đồng và chuyển 1.000.000 đồng vào tài khoản số 1019665663 của Vy mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCB), rồi Thế và Vy quan hệ tình dục với nhau

Đến 23 giờ 30 phút ngày 07/9/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Gia Lai kiểm tra khách sạn Ngọc Sê, thì phát hiện Đinh Thị Mỹ Linh đang bán dâm cho Phan Văn Tuấn tại phòng 407, Nguyễn Ngọc Trâm đang bán dâm cho Võ Tấn Huy tại phòng 204, Nguyễn Trần Hạ Vy đang bán dâm cho Lê Quý Thế tại phòng 202. Trên cơ sở lời khai của Linh, Trâm, Vy, ngay sau đó Cơ quan điều tra đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Thị Vân, Lê Anh Ngọc và Đinh Thị Mỹ Linh.

Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang và quá trình điều tra vụ án, Vân, Ngọc, Linh đã khai nhận về hành vi chứa mại dâm, môi giới mại dâm tại khách sạn Ngọc Sê.

Bản án hình sự sơ thẩm số 91/2026/HSST ngày 05 ngày 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 7- Gia Lai đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Vân phạm tội “Chứa mại dâm”.

- Căn cứ: Điểm c khoản 2 Điều 327; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Vân 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án (được trừ đi thời hạn bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 08/9/2025 đến ngày 05/01/2026).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt đối với các bị cáo Lê Ngọc Anh, Đinh Thị Mỹ Linh; về phần xử lý vật chứng; về án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.

Ngày 18/6/2026, bị cáo Nguyễn Thị Vân kháng cáo yêu cầu giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị HĐXX: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thị Vân. Sửa bản án sơ thẩm số 91/2026/HSST ngày 05/6/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 7-Gia Lai, xem xét giảm cho bị cáo từ 9 tháng đến 12 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với các chứng cứ khác nên có đủ cơ sở xác định:

Nguyễn Thị Vân là nhân viên lễ tân tại khách sạn Ngọc Sê. Khi khách vào đặt phòng khách sạn và có nhu cầu mua dâm thì Vân giới thiệu qua Lê Anh Ngọc là nhân viên bảo vệ để môi giới gái bán dâm đến khách sạn. Tại ca trực đêm lúc 23 giờ 30 phút ngày 07/9/2025, Vân đã cho 4 lượt khách mua bán dâm tại khách sạn và bị Cơ quan điều tra đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử bị cáo Nguyễn Thị Vân phạm tội “Chứa mại dâm” với tình tiết định khung phạm tội: “Phạm tội hai lần trở lên” được quy định điểm c khoản 2 Điều 327 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Vân là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, nếp sống văn minh lành mạnh và đạo đức xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến thuần phong, mỹ tục, ảnh hưởng xấu đến những quy định của Nhà nước về phòng, chống các tệ nạn xã hội. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, tuy không hưởng lợi nhưng bị cáo nhận thức rõ hành vi chứa chấp mua bán dâm là vi phạm pháp luật hình sự nên cần phải xử lý nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội gây ra.

. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thị Vân, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:

Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo có cha ruột là ông Nguyễn Bá Khôi được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sĩ giải phóng hạng Ba; bị cáo hiện là mẹ đơn thân nuôi con nhỏ đang đi học nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Trước khi xét xử phúc thẩm bị cáo cung cấp Giấy xác nhận của Trưởng Công an xã Ia Tôr, tỉnh Gia Lai về việc bị cáo là người tố giác, phát hiện tội phạm là đối tượng tên Rơ Lan Blaih có biểu hiện tàng trữ ma túy vào ngày 9/3/2026 (cùng nơi cư trú của bị cáo). Cấp phúc thẩm đã xác minh, thu thập tài liệu chứng minh bị cáo Vân cung cấp tài liệu trên là đúng sự thật. Trên cơ sở tố giác của bị cáo thì đối tượng Rơ Lan Blaih đã bị các cơ quan chức năng bắt quả tang và Tòa án nhân dân khu vực 8 – Gia lai đã xét xử đối tượng Rơ Lan Blaih tại bản án sơ thẩm số 44/2026/HS-ST, ngày 05/6/2026 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy, sau khi thực hiện hành vi phạm tội chứa mại dâm vào tháng 9/2025 bị cáo đã có công trong việc giúp cơ quan có thẩm quyền phát hiện tội phạm khác nên được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội đã lập công chuộc tội” quy định tại điểm u khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng, bị cáo được hưởng 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, u khoản 1 Điều 51 BLHS nên áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS, chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Sửa bản án sơ thẩm, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp.

. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đề nghị: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Vân. Sửa bản án sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

.Về án phí: Theo điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí.

. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Điểm c khoản 2 Điều 327; điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.

Điểm khoản 2 Điều 136; điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Thị Vân, Sửa bản án Hình sự sơ thẩm số 91/2026/HSST ngày 05/6/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 7- Gia Lai.

2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Vân 04 (bốn) năm tù, về tội “Chứa mại dâm”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án (được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/9/2025 đến ngày 05/01/2026)

3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị Vân không phải chịu.

4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ