vanban.org

Bản án 141/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị M. Buộc ông Huỳnh Văn H trả cho bà M số tiền 55.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Phạm Thị M"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị M. Buộc ông Huỳnh Văn H trả cho bà M số tiền 55.
  • Căn cứ chính? Điều 102 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 159 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HOÀI NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 141/2025/DS-ST
Ngày: 14 - 4 - 2025
V/v tranh chấp về hợp đồng vay tài
sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Long Nhiên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hữu Tố

2. Ông Phan Á

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Tuyền – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn tỉnh Bình Định: Ông Nguyễn Hoàng Quang – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 4 năm 2025 tại Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 06/2025/TLST-DS ngày 07 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2025/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị M, sinh năm 1962 (có mặt)

Địa chỉ: Khu phố T, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định.

2. Bị đơn: Ông Huỳnh Văn H, sinh năm 1986 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố M, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án của nguyên đơn bà Phạm Thị M như sau:

Bà M và ông Huỳnh Văn H có mối quan hệ quen biết với nhau, ông H là cháu rễ của chồng bà. Bà M có cho ông H mượn tiền nhiều lần, cụ thể như sau:

- Ngày 14/5/2023, bà có cho ông H mượn số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

- Ngày 10/11/2023, bà tiếp tục cho ông H mượn số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).

- Ngày 09/12/2023, bà cho ông H mượn số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

- Ngày 18/01/2024, bà cho ông H mượn số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).

- Ngày 02/3/2024, bà tiếp tục cho ông H mượn số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).

Tổng số tiền bà M cho ông H mượn là 55.000.000 đồng (Năm mươi lăm triệu đồng).

Ông H có nói mượn tiền dùng để mua gỗ do ông H làm nghề thợ tiện. Bà M có lên nhà ông H, ông H cùng làm thợ tiện gỗ chung với cha ông H, nhà có máy làm gỗ nên bà cũng tin tưởng cho mượn tiền nhiều lần. Lúc mượn tiền, ông H hẹn 1 tháng sẽ trả lại cho bà, nhưng từ đó đến nay ông H cố tình trốn tránh không trả nợ. Bà M có gọi điện thoại nhưng ông H không bắt máy và đến nhà nhiều lần cũng không gặp. Lâu nay, bà cũng không liên lạc được với ông H. Số tiền này là bà cho ông H mượn làm ăn riêng nên bà chỉ yêu cầu ông H trả tiền, không yêu cầu vợ ông H cùng trả nợ.

Nay bà Phạm Thị M yêu cầu ông Huỳnh Văn H trả cho bà tổng số tiền 55.000.000 đồng (Năm mươi lăm triệu đồng), không yêu cầu trả lãi suất.

+ Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Huỳnh Văn H không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu của bà M, không đến Tòa án để làm việc theo giấy triệu tập, thông báo và giấy báo của Tòa án.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn tham gia phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng theo qui định của pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M, buộc ông H có trách nhiệm trả cho bà M số tiền 55.000.000 đồng (Năm mươi lăm triệu đồng), bà M không yêu cầu trả lãi suất nên không xem xét. Về án phí dân sự: Ông Huỳnh Văn H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền đã vay nên theo khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự quan hệ pháp luật được xác định là Tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Bị đơn cư trú tại: thị xã H, tỉnh Bình Định nên theo điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn tỉnh Bình Định có thẩm quyền giải quyết vụ án.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa, theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành thông báo và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Huỳnh Văn H nhưng ông H không nộp văn bản ghi ý kiến của mình, không chấp hành việc triệu tập của Tòa án. Do đó, Tòa án không lấy ý kiến của ông H liên quan đến yêu cầu khởi kiện của bà M được. Ông H không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại các Điều 70, 72 và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ theo quy định tại các Điều 91; 96 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, nên phải chịu trách nhiệm cho việc không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Tòa án sẽ căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết theo quy định của pháp luật

Về yêu cầu của nguyên đơn: Xét yêu cầu khởi kiện của bà M, yêu cầu ông H trả nợ, thấy rằng: Nội dung các giấy mượn tiền ngày 14/5/2023, 02/3/2024, 09/12/2023, 10/11/2023, 18/01/2024 có ghi Huỳnh Văn H mượn cô M tổng số tiền là 55.000.000 đồng, đều có chữ ký “Huỳnh Văn H”. Theo bà M trình bày, đây đều là chữ viết và chữ ký của anh H. Bà M cũng đã nhiều lần thông báo yêu cầu ông H trả nợ nhưng ông H cố tình trốn tránh không trả nợ cho bà.

Do đó, bà M yêu cầu ông H có trách nhiệm trả nợ cho bà là phù hợp. Căn cứ quy định tại các điều 463, 466 và Điều 470 Bộ luật dân sự 2015 Hội đồng xét xử xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị M. Ghi nhận sự tự nguyện của bà M không yêu cầu ông H trả lãi suất.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy việc ông H không trả tiền là vi phạm nghĩa vụ trả tiền của bên vay, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của bà M. Do đó, việc bà M khởi kiện yêu cầu ông H phải trả cho bà số tiền 55.000.000 đồng (Năm mươi lăm triệu đồng) là phù hợp theo quy định tại điều 463, 466 Bộ luật dân sự 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Bà M không có yêu cầu nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên ông H phải chịu 2.750.000 đồng (55.000.000 x 5%).

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các điều 102, 147, 159, 160, 161, 162, 227, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án; tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị M. Buộc ông Huỳnh Văn H trả cho bà M số tiền 55.000.000 đồng (Năm mươi lăm triệu đồng). Ghi nhận sự tự nguyện của bà M không yêu cầu trả lãi suất.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Huỳnh Văn H phải nộp 2.750.000 đồng (Hai triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) sung vào ngân sách nhà nước.

Về tạm ứng án phí: Bà Phạm Thị M là người cao tuổi nên được miễn nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm.

3. Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ