vanban.org

Bản án 141/2024/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 28/08/2024 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/08/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Trần Bá T, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 117/2024/HS- ST ngày 04/6/2024, của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Bá T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Trần Bá T 01 (một) năm tù về tội… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định tham gia giao thông - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Trần Bá T, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 117/2024/HS- ST ngày 04/6/2024, của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 141/2024/HS-PT
Ngày 21-8-2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Lộc

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Huỳnh Đức;

Bà Trần Thị Thắm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 140/2024/TLPT-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Trần Bá T. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 117/2024/HS-ST ngày 04/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Bị cáo có kháng cáo:

Trần Bá T sinh năm 1975 tại tỉnh Thừa Thiên - Huế; nơi cư trú: ấp D, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hoá (học vấn): 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Bá T1 và bà Lê Thị K, bị cáo có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/5/2024 đến nay, có mặt.

Ngoài ra, còn có 02 người đại diện hợp pháp của bị hại do không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Bá T có giấy phép lái xe hạng B2 số 750117008627 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đ cấp ngày 02/10/2015 có thời hạn đến ngày 02/10/2025.

Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 13/9/2023, Trần Bá T điều khiển xe ô tô tải biển số 60H-024.00 chở hàng lưu thông theo hướng từ cầu B về vòng xoay cây xăng K. Khi đi đến đoạn đường ĐT 746 thuộc khu phố K, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương do nghe tiếng động khác thường phát ra từ xe do T đang điều khiển nên T điều khiển xe chạy chậm để chuyển hướng vào lề phải đường theo hướng đang lưu thông để kiểm tra. Lúc này, cùng chiều phía sau có xe mô tô biển số 61E1-708.26 do Lê Hữu T2 điều khiển nên va chạm vào bên trái phía sau đuôi xe ô tô tải biển số 60H-024.00 gây tai nạn. Hậu quả Lê Hữu T2 được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B nhưng do thương tích quá nặng nên đã tử vong.

Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường ngày 13/9/2023 của Đội Cảnh sát giao thông Công an thành phố T và sơ đồ hiện trường thể hiện: hiện trường vụ tai nạn giao thông là đoạn đường thẳng, mặt đường được trải nhựa. Bề rộng mặt đường đo được là 26m, có dải phân cách cố định rộng 02m, có vạch kẻ liền nét và nét đứt, phân thành 03 làn đường, mỗi làn đường rộng 04m.

Tại Kết luận giám định pháp y tử thi số 743/KLGĐTT-PC09 ngày 17/9/2023, của Phòng K1 Công an tỉnh B xác định: Lê Hữu T2 chết là do đa chấn thương.

Tại Kết luận giám định số 394/KL-KTHS(CH) ngày 20/11/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận dấu vết va chạm và cơ chế hình thành dấu vết giữa xe dấu vết va chạm của xe mô tô biển số 61E1-708.26 và xe ô tô tải biển số 60H-024.00 như sau:

Dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển số 61E1-708.26 và xe ô tô tải biển số 60H-024.00 là:

- Các dấu vết trượt xước sơn màu đen, bám dính màng màu trắng (dạng sơn), vỡ ốp nhựa và cong biến dạng kim loại ở bên phải đầu xe, mặt trước cụm tay phanh, bên phải mặt nạ, bửng chắn gió phải xe mô tô có chiều từ trước về sau, từ trái qua phải phù hợp với các dấu vết trượt xước sơn màu trắng, bám dính chất màu đen ở mặt sau, mặt trái góc sau bên trái thùng xe, gãy rời khung kim loại bảo vệ cụm đèn xi nhan sau trái và đầu trái thanh cản sau xe ô tô tải có chiều từ sau về trước, từ phải qua trái.

- Các dấu vết trượt xước ở mặt trái bánh xe trước, vỡ ốp nhựa vè chắn bùn trước, cong biến dạng hai phuộc trước xe mô tô có chiều từ trước về sau, trái qua phải phù hợp với các dấu vết trượt xước in hình vân lốp bánh xe mặt sau tấm vè chắn bùn sau bên trái xe ô tô tải có chiều từ sau về trước, từ trái qua phải.

Cơ chế hình thành dấu vết giữa hai phương tiện: mặt trước, bên phải phần đầu xe mô tô va chạm vào phía sau bên trái đuôi ô tô tải theo hướng cùng chiều từ sau về trước (như mục 1, phần V) làm xe mô tô đổ ngã bên trái, va chạm với mặt đường, tạo ra dấu vết trên phương tiện.

Vị trí va chạm của hai phương tiện chiếu xuống mặt đường là khu vực phía trước đầu vết cày (ký hiệu số 01) trên sơ hiện trường vụ tai nạn giao thông đường bộ.

Không đủ căn cứ xác định vận tốc của hai xe trên khi tham gia tai nạn giao thông.

Tại Kết luận giám định số 151/KL-KTHS(HPL) ngày 05/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: khoảng 09ml máu của Lê Hữu T2 đựng trong ống nhựa được niêm phong gửi giám định tìm không thấy có thành phần Ethanol (cồn).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 117/2024/HS-ST ngày 04/6/2024, của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Trần Bá T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Trần Bá T 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt từ tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

- Ngày 13/6/2024, bị cáo Trần Bá T, kháng cáo xin được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến: sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo, đơn kháng cáo trong hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo trình tự phúc thẩm; tại cấp phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới; bị cáo T điều khiển xe ô tô chuyển hướng không đảm bảo an toàn thể hiện sự cẩu thả và xem thường pháp luật của bị cáo, nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để răn đe giáo dục và đáp ứng yêu cầu đầu tranh phòng chống tội phạm. Nhận thấy, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo 01 năm tù là phù hợp, không nặng là khởi điểm của khung hình phạt. Do đó không có cơ sở xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Bá T; đề nghị Hội đồng xét xử không chấp đơn kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 117/2024/HS-ST ngày 04/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Bị cáo không tranh luận.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để có cơ hội chăm lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án và đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đơn kháng cáo của bị cáo được thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào lời khai của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định: khoảng 12 giờ 00 phút ngày 13/9/2023, Trần Bá T điều khiển xe ô tô tải biển số 60H-024.00 chở hàng lưu thông trên đoạn đường ĐT 746 thuộc khu phố K, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương, theo hướng từ cầu B về vòng xoay cây xăng K. Do thiếu chú ý quan sát, chuyển hướng không đảm bảo an toàn, dẫn đến va chạm với xe mô tô biển số 61E1-708.26 do ông Lê Hữu T2 điều khiển, hậu quả làm ông T2 chết, xe mô tô bị hư hỏng nặng.

Tại Kết luận giám định pháp y tử thi số 743/KLGĐTT-PC09 ngày 17/9/2023, của Phòng K1 Công an tỉnh B xác định: Lê Hữu T2 chết là do đa chấn thương. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Bá T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của người khác khi tham gia giao thông. Hiện nay, tình hình tai nạn giao thông diễn ra ngày càng phức tạp và có chiều hướng gia tăng, nguyên nhân là do ý thức không chấp hành luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông mà phần lớn là lỗi của người điều khiển phương tiện vi phạm Luật giao thông đường bộ, dẫn đến gây tai nạn cho người khác. Hậu quả của những hành vi này là gây thiệt hại cho tính mạng, gây thiệt hại đến sức khỏe của người khác.

Xét đơn kháng cáo của bị cáo Trần Bá T với nội dung xin được hưởng án treo; tại cấp phúc thẩm, bị cáo không có cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới; trong vụ án này bị cáo tham gia giao thông gây ra tai nạn, hậu quả làm chết một người; người bị hại cũng có một phần lỗi; quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo; đã khắc phục toàn bộ thiệt hại cho phía gia đình bị hại; gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; không có tình tiết tăng nặng; có khả năng tự cải tạo, không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù cũng đủ sức răn đe, giáo dục và không gây nguy hiểm cho xã hội; bị cáo bị xử phạt tù không quá 03 năm, đủ điều kiện hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự và các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, kháng cáo của bị cáo về việc xin hưởng án treo là có cơ sở chấp nhận.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm là chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu.

Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Trần Bá T, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 117/2024/HS- ST ngày 04/6/2024, của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Bá T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Trần Bá T 01 (một) năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (21/8/2024).

Giao bị cáo về Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Trần Bá T không phải chịu.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ