- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Xuân Đ - Tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lương Xuân Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TX. QUẾ VÕ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| _________ Bản án số: 141/2023/HSST Ngày 19/07/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đắc Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Huệ và Bà Nguyễn Thị Quỳnh Chúc.
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hòa, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ.
Đ diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Đình Thắng, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 07 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 144/2023/HSST ngày 22 tháng 06 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 148/2023/QĐXXST - HS ngày 06 tháng 07 năm 2023, đối với:
Bị cáo: Lương Xuân Đ, sinh năm 1996.
HKTT: Xóm 9, Vĩnh Quang, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lương Văn D và bà Triệu Thị S; Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Chưa có. Con: Có 01 con, sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Quyết định số 131/QĐ-XPVPHC ngày 20/3/2018 của Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.000.000 đồng về hành vi “Xâm hại sức khỏe của người khác”. Bị can đã nộp phạt ngày 22/3/2018.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/03/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lương Xuân Đ, HKTT: Xóm 9, Vĩnh Quang, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng là đối tượng nghiện ma tuý từ đầu năm 2023 đến nay.
Khoảng 16h00' ngày 19/3/2023, Đ đang ở phòng trọ tại khu Đa Cấu, phường Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh thì có nhu cầu sử dụng ma túy nên đã gọi điện cho 01 người thanh niên không quen biết hỏi mua 200.000 đồng ma túy, người thanh niên đồng ý và hẹn Đ đến khu Liễn Thượng, phường Đ Xuân. Sau đó, Đ mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, BKS: 11H1-287.84 của bạn gái là chị Lăng Thị L, sinh năm 1998, HKTT: Bản Cài, xã Nguyễn Huệ, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng để điều khiển đến khu vực cổng chào phường Đ Xuân đứng đợi. Khoảng 10 phút sau, người đàn ông không quen biết điều khiển xe mô tô đến bảo Đ điều khiển xe mô tô đi theo. Đ đi theo người đàn ông đó được khoảng 300 mét thì đỗ xe bên lề đường rồi đi bộ theo người đàn ông không quen biết đang điều khiển xe mô tô đi chậm. Tại đây, người đàn ông không quen biết đưa cho Đ 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Vinataba màu vàng, bọc bên ngoài là vỏ nilon màu trắng, bên trong lớp vỏ nilon có 01 gói giấy bạc màu trắng. Biết là ma túy cần mua nên Đ cất vỏ bao thuốc vào túi quần phía trước bên phải đang mặc đồng thời đưa lại cho người đàn ông không quen biết số tiền 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Đ đi quay lại chỗ đỗ xe mô tô thì bị lực lượng Công an Phường Đ Xuân kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu ở trên.
Vật chứng thu giữ:
+ Thu giữ tại túi quần bên phải phía trước Đ đang mặc 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Vinataba màu vàng, bọc bên ngoài là vỏ nilon màu trắng, bên trong lớp vỏ nilong có 01 gói giấy bạc màu trắng chứa chất bột màu trắng.
+ Tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, BKS: 11H1-287.84 đã qua sử dụng.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, BKS: 11H1-287.84 thu giữ của Đ. Quá trình điều tra xác định là xe chị Lăng Thị L cho Đ mượn làm phương tiện đi lại. Chị Lan không biết việc Đ sử dụng xe mô tô để đi mua ma túy nên ngày 11/5/2023 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Quế Võ trả lại cho chị Lan chiếc xe mô tô trên. Chị Lan đã nhận lại tài sản, không yêu cầu đề nghị gì.
Tại bản Kết luận giám định số 724/KL-KTHS ngày 21/03/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 (một) gói giấy bạc màu trắng gửi giám định có khối lượng là 0,1307 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Heroin”
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, bị cáo Lương Xuân Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 107/CT-VKSQV ngày 21/06/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đã truy tố Lương Xuân Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Lương Xuân Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Trong phần tranh luận, Đ diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lương Xuân Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Lương Xuân Đ từ 14 tháng đến 18 tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày 19/03/2023. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ số mẫu vật còn lại sau giám định trong phong bì thư có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh.
Bị cáo Lương Xuân Đ nhận tội, không có ý kiến gì và không tham gia tranh luận với Đ diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã Quế Võ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo Lương Xuân Đ tại cơ quan điều tra và tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường, lời khai của những người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án xác định được: Hồi 16h40’ phút ngày 19/3/2023, tại khu Liễn Thượng, phường Đ Xuân, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác Công an phường Đ Xuân bắt quả tang Lương Xuân Đ có hành vi tàng trữ trái phép 0,1307 gam ma túy Heroin mục đích để sử dụng cho bản thân. Như vậy, thấy đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của Lương Xuân Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm được quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội. Tệ nạn ma tuý làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế, xã hội của Nhà nước; việc đấu tranh với các tội phạm về ma tuý hiện nay là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân. Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách để bài trừ tệ nạn này. Bất chấp sự ngăn cấm của pháp luật, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo đã tiếp tay làm gia tăng tệ nạn ma tuý trên địa bàn thị xã Quế Võ. Chính vì vậy phải đưa ra xét xử bị cáo kịp thời và có hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính tuy nhiên bị cáo đã nộp phạt. Tại cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với người người đàn ông bán ma túy cho Đ. Quá trình điều tra Đ không biết tên, tuổi, địa chỉ của những người này nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Quế Võ tiếp tục điều tra xác minh, khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh dương Đ sử dụng để liên lạc mua ma túy. Quá trình điều tra xác định Đ đã làm rơi chiếc điện thoại trên trong quá trình bị bắt giữ, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Quế Võ đã ra thông báo truy tìm vật chứng đến nay chưa thu hồi được.
Về xử lý vật chứng của vụ án: mẫu vật còn lại sau giám định trong phong bì thư có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh là vật cấm nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lương Xuân Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 136, Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:
Xử phạt: Lương Xuân Đ 14 (Mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/03/2023. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ số mẫu vật còn lại sau giám định trong phong bì thư có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh. (Theo biên bản giao vật chứng ngày 14/06/2023 giữa Công an thị xã Quế Võ với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quế Võ).
Về án phí: bị cáo Lương Xuân Đ phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh; - VKS, CA, Chi cục THADS thị xã Quế Võ; - VKS, Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh; - Bị cáo và người tham gia tố tụng khác; - Trại tạm giam CA tỉnh Bắc Ninh; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Đắc Dũng |