- Tranh chấp gì? án hình sự — "Long - vi phạm giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Giao bị cáo Trần Văn L cho Uỷ ban nhân dân xã Lại Xuân, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 141/2023/HS-ST Ngày 28-9-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Công Hạ
Ông Bùi Đình Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đình Hiến - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 124/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 131/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:
Trần Văn L, sinh năm 1971, tại Hải Phòng; Nơi cư trú: Thôn 4, xã c, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Đvà bà Nguyễn Thị T (đều đã chết); có vợ Lê Thị H; tiền án; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấp đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Bị hại: Đặng Xuân B, sinh ngày 14 tháng 6 năm 2012; nơi cư trú: huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Chị Bùi Thị C, sinh năm 1979 và anh Đặng Xuân H, sinh năm 1985 (là bố mẹ đẻ của bị hại); cùng nơi cư trú: Thôn 1, xã c, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Anh H có mặt, chị C vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 23 tháng 3 năm 2023, bị cáo Trần Văn L điều khiển xe ô tô khách biển kiểm soát 15B1-041.15 (loại 46 chỗ ngồi) chở công nhân từ xã Kỳ Sơn, huyện Thủy Nguyên đến khu công nghiệp Vsip. Khi đi đến địa phận thôn 2, xã Quảng Thanh, huyện Thủy Nguyên, L điều khiển xe ô tô với tốc độ khoảng 30km/h trên phần đường bên phải. Lúc này, L quan sát phía trước thấy xe máy điện do chị Bùi Thị C chở cháu Đặng Xuân B đi từ trên vỉa hè xuống lòng đường theo hướng cùng chiều xe của L điều khiển. L điều khiển xe ô tô đi được một đoạn thì vượt xe máy điện của chị C. Khi đầu xe ô tô vượt qua xe máy điện khoảng 2,5m, L thấy 01 xe ô tô tải ngược chiều đang đi đến nên đã nháy đèn pha xin đường, đánh lái sang bên phải để tránh xe ô tô thì cạnh ốp chắn bánh xe bên phải phía trước bên phải của xe ô tô va chạm với xe máy điện biển kiểm soát 15MĐ2-100.10 do chị Bùi Thị C điều khiển chở phía sau là cháu Đặng Xuân B. Hậu quả làm cháu B tử vong. Sau khi va chạm, L quan sát gương chiếu hậu thấy xe máy điện bị đổ ở lề đường bên phải. L cho xe dừng lại thì một số công nhân trên xe nói là xe máy điện tự ngã, nghĩ không liên quan đến xe ô tô do L điều khiển nên L tiếp tục điều khiển xe ô tô di chuyển theo hành trình, chở công nhân đến khu công nghiệp Vsip. Sau khi biết sự việc trên xảy ra, L đã đến Công an huyện Thủy Nguyên trình diện.
Tiến hành khám nghiệm hiện trường theo hướng xã Kỳ Sơn đi Ủy ban nhân dân xã Quảng Thanh, Cơ quan điều tra thu thập các dấu vết: Điểm mốc là cột điện ký hiệu 13L2TX trên lề đường phải. Đường rộng 08m, trải nhựa phẳng, có vạch sơn đứt quãng chia chiều đường, thuộc khu vực đông dân cư sinh sống. Một vết cày xước trên mặt đường theo hướng khám nghiệm dài 2,1m, điểm đầu cách mép đường phải 1,3m và cách điểm mốc 13,5m, điểm cuối nằm dưới xe máy điện biển kiểm soát 15MĐ2-100.10. Một xe máy điện biển kiểm soát 15MĐ2-100.10 đổ nghiêng trái trên mặt đường, đầu xe theo hướng khám nghiệm, trục bánh xe phía sau cách mép đường phải 0,6m, trục bánh phía trước cách mép đường phải 0,2m. Một đám máu loang trên mặt đường kích thước (01x0,9)m, tâm đám máu cách mép đường phải 1,5m và cách trục bánh xe phía sau xe máy điện 1,7m.
Kết quả khám nghiệm tử thi cháu Đặng Xuân B có các dấu vết sau: Vùng trán, thái dương đỉnh hai bên lóc da kích thước (17x25)cm để lộ xương hộp sọ. Tai phải dập rách. Mặt trước gối và cẳng chân trái xây xước trợt da rải rác trong diện (30x10)cm. Mặt sau 1/3 dưới cẳng chân phải xây xước trợt da kích thước (10x04cm). Mặt sau giữa hai vai xây xước trợt da, sưng nề diện (15x20)cm. Dập vỡ phức tạp xương hộp sọ vùng trán và thái dương hai bên, thoát phần lớn tổ chức não ra ngoài.
Tại Kết luận giám định tử thi số 127/KLGĐTT-KTHS(PY) ngày 27 tháng 3 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận cháu Đặng Xuân B bị dập vỡ xương hộp sọ vùng trán, thái dương hai bên, thoát tổ chức não. Cơ chế hình thành thương tích do va đập, đè ép mạnh. Nguyên nhân chết do sốc chấn thương sọ não hở.
Tiến hành khám nghiệm các phương tiện liên quan đến vụ tai nạn, Cơ quan điều tra thu thập các dấu vết:
Xe ô tô biển kiểm soát 15B-041.15: Mép trong cạnh ốp chắn bánh xe bên phải phía trước có vết mài xước bong tróc sơn sạch bụi kích thước (29x03)cm, theo chiều từ trước về sau, điểm thấp nhất cách mặt đất 99cm, điểm cao nhất cách đất 109cm. Ốp cạnh xe bên phải vị trí sau bánh xe phía trước có vết mài xước sạch bụi, kích thước (120x80)cm theo chiều từ trước về sau. Cạnh ngoài bánh xe phía sau bên phải có bám dính tạp chất dạng dịch máu.
Xe máy điện biển kiểm soát 15MĐ2-100.10: Cạnh trên gương chiếu hậu bên trái có vết mài xước kích thước (07x01)cm, chiều từ sau về trước, trên bề mặt bám dính tạp chất màu đỏ dạng sơn. Đầu tay lái xe bên trái có vết mài xước cao su, bật rời mấu hãm. Đầu tay phanh bên trái có vết mài xước kim loại kích thước (01x01)cm. Cạnh ngoài ốp nhựa yếm xe bên trái có vết mài xước nhựa kích thước (20x05)cm. Cạnh ngoài bên trái chân chống giữa có vết mài xước kim loại kích thước (04x1,5)cm.
Bản Kết luận giám định số 65/KL-KTHS(CH) ngày 02 tháng 4 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự công an thành phố Hải Phòng kết luận: Dấu vết trượt sạch bụi đất màu nâu, trượt xước mất sơn màu trắng để lộ sơn lót màu đỏ theo chiều từ trước về sau ở mặt ngoài cạnh dưới ốp kim loại chắn bùn bánh trước bên phải xe ô tô biển kiểm soát 15B1-041.15 phù hợp với dấu vết trượt xước nhựa, bám dính tạp chất màu nâu (dạng bụi đất), màu trắng và đỏ (dạng sơn) ở cạnh trên ốp nhựa B vệ gương chiếu hậu bên trái xe máy điện biển kiểm soát 15MĐ2-100.10. Các dấu vết va chạm tại vị trí này trên xe máy điện biển kiểm soát 15MĐ2-100.10 có chiều từ sau về trước.
Bản thân Trần Văn L có giấy phép lái xe ô tô hạng E, giá trị đến ngày 03 tháng 5 năm 2026. L hợp đồng lái xe ô tô khách cho Công ty TNHH Xuân Sơn, địa chỉ xã Tân Dương, huyện Thủy Nguyên. Biên bản kiểm tra xác định nồng độ cồn, xét nghiệm nước tiểu ngày 23 tháng 3 năm 2023 của Trần Văn L cho kết quả: Nồng độ cồn trong hơi thở là 0.000 mg/l, âm tính với các chất ma túy.
Tại phiên tòa bị cáo trình bày thống nhất về hành vi như đã nêu trên, đồng ý với nội dung kết luận giám định, không có ý kiến hay khiếu nại gì.
Đại diện hợp pháp của người bị hại chị Bùi Thị C khai: Khi chị đang điều khiển xe máy điện chở cháu B ở sát mép đường bên phải đã bị xe ô tô cùng chiều phía sau của L vượt lên, sau đó đánh lái sang bên phải dẫn đến va chạm với xe máy điện của chị C, hậu quả làm cháu B bị tử vong. Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo L đã bồi thường cho gia đình chị số tiền 250.000.000 đồng. Chị C và gia đình không còn yêu cầu gì khác và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho L.
Những người làm chứng là anh Phạm Ngọc Tùng khai: Anh Tùng điều khiển xe ô tô phía sau xe ô tô của L, xe ô tô của L tránh xe ngược chiều, đánh lái sang phải va chạm với xe máy điện cùng chiều, chị Trần Thị Hồng Nguyên, chị Đỗ Thị Nghĩa khai: Chị Nguyên, chị Nghĩa ngồi trên xe ô tô do L điều khiển, khi xảy ra va chạm, chị Nguyên, chị Nghĩa và một số công nhân trên xe ô tô B nhau “hình như là của xe họ tự ngã ra đấy”, sau đó L tiếp tục điều khiển xe ô tô theo lịch trình.
Về vật chứng: Quá trình điều tra xác định xe ô tô biển kiểm soát 15B1-041.15 do Trần Văn L điều khiển thuộc sở hữu của Công ty TNHH Xuân Sơn, xe máy điện biển kiểm soát 15MĐ2-100.10 của chị Bùi Thị C. Sau khi tiến hành xong các hoạt động điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại những tài sản trên cho chủ sở hữu hợp pháp.
Đối với 01 thẻ nhớ chứa video vụ tai nạn được Cơ quan điều tra thu thập, qua giám định không bị cắt ghép, chỉnh sửa được chuyển kèm theo hồ sơ vụ án.
Tại Bản cáo trạng số 142/CT-VKS ngày 13 tháng 9 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên đã truy tố Trần Văn L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng. Sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách tương ứng. Bị cáo L là lao động chính trong gia đình nên không áp dụng khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Tại phiên tòa bị cáo xin được nhận lại giấy phép lái xe ô tô mang tên Trần Văn L, xét thấy đây là giấy tờ tùy thân của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết xong tại giai đoạn điều tra, người đại diện của bị hại không có yêu cầu, đề nghị gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo trình bày nhận thức rõ hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm đã thực hiện, tỏ ra ăn năn, hối cải và mong muốn được sự khoan hồng của pháp luật, được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định trong quá trình tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, của người được giao thẩm quyền tiến hành tố tụng đối với vụ án trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo và những người khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì nên các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, người đại diện bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, kết luận giám định cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa nên có đủ căn cứ xác định: Khoảng 07 giờ ngày 23 tháng 3 năm 2023, tại tỉnh lộ 352 thuộc địa phận thôn 2, xã Quảng Thanh, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng, Trần Văn L điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 15B1-041.15 tham gia giao thông khi vượt xe đã không chú ý quan sát, không đảm B an toàn đã va chạm với xe máy điện biển kiểm soát 15MĐ2-100.10 do chị Bùi Thị C điều khiển chở phía sau là cháu Đặng Xuân B. Hậu quả làm cháu B tử vong. Hành vi của Trần Văn L đã vi phạm khoản 2 Điều 14 “Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải” của Luật Giao thông đường bộ. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ và gây thiệt hại đến tính mạng của người khác. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, thành khẩn khai báo. Đại diện hợp pháp cho người bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự. Sau khi gây tai nạn bị cáo đầu thú, bị cáo có bác ruột là liệt sỹ nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: Xét bị cáo phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự (nhân thân tốt), bị cáo có việc làm, có nơi cư trú rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nêu trên quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Xét thấy, bị cáo có khả năng tự cải tạo mà không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên không cần thiết phải buộc bị cáo phải cách ly xã hội. Có thể áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung, đồng thời còn thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa. Bị cáo làm công việc lái xe để có thu nhập nuôi bản thân và gia đình nên không áp dụng hình phạt bổ sung tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Về những vấn đề khác: Vụ án này không có dấu hiệu của việc bỏ lọt tội phạm hoặc hành vi phạm tội mới nên Hội đồng xét xử không phân tích chứng cứ để xem xét việc khởi tố vụ án hay yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự. Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường nên không xét. Chiếc xe ô tô biển kiểm soát 15B1-041.15 và xe máy điện biển kiểm soát 15MĐ2-100.10. Sau khi tiến hành xong các hoạt động điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại những tài sản trên cho chủ sở hữu hợp pháp sử dụng là phù hợp pháp luật.
về xử lý vật chứng: 01 thẻ nhớ chứa video vụ tai nạn là tài liệu chứng cứ của vụ án nên được lưu cùng hồ sơ vụ án. 01 giấy phép lái xe ô tô mang tên Trần Văn L, xét thấy đây là giấy tờ tùy thân của bị cáo, tại phiên tòa bị cáo xin được nhận lại nên cần trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Trần Văn L 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời gian thử thách là 36 tháng tính từ ngày tuyên án. Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo.
Giao bị cáo Trần Văn L cho Uỷ ban nhân dân xã Lại Xuân, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau:
Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật Thi hành án hình sự.
Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho Trần Văn L 01 giấy phép lái xe ô tô số 310955001376 ngày 09 tháng 6 năm 2022 mang tên Trần Văn L.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Bị cáo;
- TAND thành phố Hải Phòng;
- VKSND thành phố Hải Phòng;
- VKSND huyện Thủy Nguyên;
- Chi cục THADS huyện Thủy Nguyên;
- CQCSĐT Công an huyện Thủy Nguyên;
- UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;
- Sở tư pháp thành phố Hải Phòng;
Nguyễn Thị Mai
- Phòng PV06, PC10;
- Lưu: VT; HCTP; Hồ sơ vụ án.
HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Thị Mai
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận:
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Bị cáo;
- TAND thành phố Hải Phòng;
- VKSND thành phố Hải Phòng;
- VKSND huyện Thủy Nguyên;
- Chi cục THADS huyện Thủy Nguyên;
- CQCSĐT Công an huyện Thủy Nguyên;
- UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;
- Sở tư pháp thành phố Hải Phòng;
Nguyễn Thị Mai
- Phòng PV06, PC10;
- Lưu: VT; HCTP; Hồ sơ vụ án.
Hướng dẫn sử dụng mẫu số 27-HS:
Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại các điều 254, 260 và 423 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Tòa án khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo:
(1) và (4) nếu là Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi tên Tòa án nhân dân quận (huyện, thị xã, thành phố) gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An); nếu là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi tên Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội); nếu là Tòa án quân sự khu vực thì ghi tên Tòa án quân sự khu vực gì thuộc quân khu, quân chủng nào; nếu là Tòa án quân sự quân khu, quân chủng thì ghi tên Tòa án quân sự quân khu, quân chủng (ví dụ: Tòa án quân sự Quân khu Thủ đô).
(2) ô thứ nhất ghi số Bản án, ô thứ hai ghi năm ra Bản án (ví dụ: 16/2017/HS-ST).
(3) ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày hoặc nghị án kéo dài.
(5) nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi đầy đủ họ tên của
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, bỏ dòng Thẩm phán..., đối với Hội thẩm nhân dân (quân nhân) chỉ ghi đầy đủ họ tên của hai Hội thẩm nhân dân (quân nhân); nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Cần chú ý không ghi chức vụ của Thẩm phán; đối với vụ án hình sự thông thường thì không ghi chức vụ, nghề nghiệp của
Hội thẩm nhân dân (quân nhân); đối với vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi thì ghi nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Nếu vụ án do Tòa án quân sự giải quyết thì không ghi Ông (Bà) mà ghi cấp bậc quân hàm.
(6) ghi đầy đủ họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).
(7) ghi tên Viện kiểm sát như hướng dẫn tại (1); ghi họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
(8) trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ Trong các (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi Từ ngày đến ngày (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).
(9) nếu vụ án được xét xử tại trụ sở Tòa án thì ghi như hướng dẫn tại mục (1) (4). Nếu vụ án được xét xử lưu động thì ghi địa điểm nơi diễn ra phiên tòa.
(10) nếu xét xử kín thì thay cụm từ công khai bằng từ kín.
(11) và (12) ghi đầy đủ họ tên bị cáo và các bí danh, tên thường gọi khác (nếu có); nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 8 tháng 15 ngày); nếu bị cáo trên 18 tuổi thì ghi ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi; ghi nơi đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, nơi sinh sống của bị cáo. Đối với tiền sự thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị xử lý đó tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật. Đối với tiền án thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị kết án đó tính đến ngày phạm tội chưa được xoá án. Về nhân thân ghi án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật cụ thể các lần đó và ghi rõ là các án tích, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đó đã được xoá. Trường hợp bị cáo là pháp nhân thương mại thì ghi tên, địa chỉ trụ sở, tên người đại diện theo pháp luật, tiền án, tiền sự của pháp nhân thương mại và các thông tin cần thiết khác; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(13) ghi ngày bị cáo bị bắt, tạm giam; nếu trước đó bị cáo đã bị tạm giữ, bị bắt, tạm giam, thì ghi ngày bị tạm giữ, ngày bị bắt, tạm giam và ngày được cho tại ngoại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(14) và (15) nếu bị cáo có người đại diện hợp pháp thì ghi rõ họ tên của bị cáo đó (ví dụ: Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn A). Sau chữ là ghi quan hệ như thế nào với bị cáo (ví dụ: là bố của bị cáo); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(16) nếu có người bào chữa thì ghi đầy đủ họ tên của người bào chữa và họ tên của bị cáo được bào chữa; nếu người bào chữa là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào (ví dụ: Ông Trần B, Luật sư Văn phòng luật sư Vạn Xuân thuộc Đoàn luật sư tỉnh H bào chữa cho Nguyễn Văn C); nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bào chữa (ví dụ: Bà Lê Thị M, bào chữa viên nhân dân công tác tại Hội luật gia tỉnh M bào chữa cho Nguyễn Văn D); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(17), (18), (19), (20), (21), (22), (23) và (24) nếu có người nào tham gia tố tụng thì ghi đầy đủ họ tên, tuổi, nơi cư trú của người đó. Trường hợp bị hại là người bị xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự và là người dưới 18 tuổi, thì phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh của bị hại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(25) nếu bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có người B vệ quyền lợi cho họ, thì ghi đầy đủ họ tên của họ theo thứ tự; nếu người B vệ quyền lợi của đương sự là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào; nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người B vệ quyền lợi cho đương sự; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi có mặt và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi vắng mặt.
(26) nếu có người tham gia tố tụng là người làm chứng thì ghi đầy đủ họ tên; nếu người tham gia tố tụng là người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật thì ghi đầy đủ họ tên, cơ quan công tác.
(27) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
(28) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ thự trong dấu [ ].
(29) tùy từng trường hợp mà ghi rõ căn cứ pháp luật để ra quyết định.
(30) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
(31) phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi đầy đủ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các bị cáo, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì ghi như sau: Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND thành phố Hải Phòng;
- VKSND thành phố Hải Phòng;
- VKSND huyện Thủy Nguyên;
- Chi cục THADS huyện Thủy Nguyên;
- Cơ quan thi hành án hình sự;
- Trại tạm giam Công an TP Hải Phòng;
- CQCSĐT Công an huyện Thủy Nguyên;
- UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;
- Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
Nguyễn Thị Mai
- Phòng PV06, PC10;
- Lưu: VT; HCTP; Hồ sơ vụ án.
| Nơi nhận: Ghi những nơi mà Tòa án cấp sơ thẩm phải giao THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA hoặc gửi bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 262 của Bộ luật Tố tụng hình sự và những nơi cần lưu bản án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |