vanban.org

Bản án 141/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 26/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Uỷ ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC NINH
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 141/2023/HS-ST
Ngày 26 – 6 – 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thanh Ngọc.

- Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hiệp

Ông Ngô Văn Lưu – Giáo viên nghỉ hưu.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Vân Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Châm - Kiểm sát viên.

Ngày 26/6/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 147/2023/HSST ngày 02 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 138/2023/QĐXX-HS ngày 12 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh ngày 01/01/2007.

HKTT: Xóm 3, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

Nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;

Con ông: Nguyễn Cao C, sinh năm 1979 và bà Lê Thị Lâm, sinh năm 1979; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/3/2023, có mặt tại phiên toà.

- Người bào chữa của bị cáo: Ông Hoàng Nhật H – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Ninh (Có mặt)

- Đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Nguyễn Cao C, sinh năm 1979; HKTT: Xóm 3, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An là bố đẻ của bị cáo (Có mặt)

- Bị hại: Chị Trần Khánh L, sinh năm 2001; HKTT: Số 36, Mạc Thị Bưởi, phường K, TP. B, tỉnh Bắc Ninh (Vắng mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Cao C, sinh năm 1979; HKTT: Xóm 3, Q, Q, Nghệ An (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 20/02/2023, Nguyễn Văn T, sinh ngày 01/01/2007; HKTT: Xóm 3, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An là học sinh l0A5 trường Trung cấp kinh tế kỹ thuật bắc Nghệ An dùng tài khoản Facebook do Tú tự lập tên “Trần Thu Trang” có ID 100055564538139 tạo bài đăng trên hội nhóm “Cho thuê nhà & Phòng trọ quận Cầu Giấy – Mỹ Đình” với nội dung “Chỉnh chủ cho thuê: Nhà mới xây 7 tầng; Địa chỉ: Ngõ 126 Hoàng Quốc Việt; Diện tích 25 m²; đồ cơ bản; Điều hòa, nóng lạnh, kệ bếp, giường, tủ, máy giặt chung, sân phơi chung tầng 7; Không chung chủ, khóa cửa vân tay, thang máy, camera giám sát, Wifi free; Xe để tầng 1 free; Giá phòng 3 triệu/ tháng”. Trước đó Tú đã lên mạng tìm hiểu nhiều cách thức lừa đảo và chọn cách lừa đảo nhận tiền cọc nhà trọ. Sau khi Tú đăng bài thì có rất nhiều người vào bình luận trong đó có tài khoản Facebook tên “Ly Thỏ” của chị Trần Khánh L, sinh năm 2001; HKTT: Số 36, Mạc Thị Bưởi, phường Kinh Bắc, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh nhắn tin cho Tú xin ảnh và video quay toàn cảnh phòng trọ. Tú đã gửi cho chị Ly những hình ảnh và video phòng trọ mà Tú tìm được và chuẩn bị từ trước. Sau đó, Tú tiếp tục nhắn tin với chị Ly cung cấp thông tin như: Phòng trọ được nuôi động vật, giá điện 3.800đ/ số, giá nước 18.000đ/khối, giá Wife 100.000đ/ phòng, thang máy 50.000đ/người, vệ sinh 35.000đ/người. Sau khi Tú nhắn tin, chị Ly ngỏ ý muốn xem phòng trọ thì Tú nói Tú không phải chủ trọ, chủ trọ là Ngô Thị Trang và cho chị Ly số điện thoại 0346.149.243 của Tú dùng để lập tài khoản Zalo tên “Ngô Thị Trang”. Nên chị Ly nhắn tin từ tài khoản Zalo “Ly thỏ” tới Zalo “Ngô Thị Trang” nói được tài khoản Facebook “Trần Thu Trang” giới thiệu, muốn thuê trọ và hỏi kỹ hơn thì Tú có nhắn lại cho chị Ly biết phòng trọ chị Ly hỏi là “Phòng 502 ngõ 126 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội”. Tú nói với chị Ly phòng chị Ly đang hỏi có rất nhiều người muốn thuê và bảo chị Ly phải chuyển cọc 3.000.000 đồng, chị Ly đồng ý. Tú gửi cho chị Ly số tài khoản 109557889999 tại Ngân hàng Vietinbank của chị Ngô Thị Trang, sinh năm 1988 ở xóm 7, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An là chủ quán Internet mà Tú thường xuyên tới chơi. Biết chị Trang kinh doanh dịch vụ đổi tiền từ tài khoản sang tiền mặt hoặc thẻ game nên Tú đã ghi lại tên, số tài khoản 109557889999 tại Ngân hàng Vietinbank của chị Trang. Chị Ly tin tưởng và chuyển khoản số tiền 3.000.000 đồng từ số tài khoản 03642490666 tại Ngân hàng TP Bank của chị Ly đến số tài khoản 109557889999 tại Ngân hàng Vietinbank của chị Trang, rồi gửi hình ảnh đã chuyển khoản thành công cho Tú. Sau khi chị Ly chuyển khoản, Tú thống nhất với chị Ly sáng ngày 23/02/2023, hai bên sẽ ký hợp đồng thuê nhà tại nhà chị Ngô Thị Trang tại số 217, ngõ 126 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội. Sau khi nhắn tin xong với chị Ly, Tú xóa bài đăng, chặn Facebook, Zalo, số điện thoại của chị Ly rồi ra quán Internet của chị Trang, đưa hình ảnh thể hiện việc chị Ly chuyển khoản đến tài khoản của chị Trang, Tú đọc lịch sử giao dịch, thông tin người chuyển, chị Trang thấy thông tin Tú đưa ra phù hợp nên đồng ý đưa cho Tú số tiền 3.000.000 đồng, Tú trả chị Trang phí đổi, rút tiền là 30.000 đồng. Toàn bộ số tiền 3.000.000 đồng, Tú đã ăn tiêu hết.

Đến hẹn ngày 23/02/2023, chị Ly liên hệ với số điện thoại 0364.149.243, Zalo “Ngô Thị Trang” và Facebook “Trần Thị Trang” nhưng không liên lạc được, không thấy có người gọi điện báo chị Ly đi xem nhà hay ký hợp đồng thuê nhà.

Ngày 08/3/2023 chị Ly làm đơn trình báo đến Phòng An ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (PA05) Công an tỉnh Bắc Ninh

Quá trình điều tra, Cơ quan Công an đã xác minh tại Công an phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xác định: Trong ngõ 126 đường Hoàng Quốc Việt, phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội không có địa chỉ số nhà 217.

Ngày 12/3/2023 thu giữ vật chứng Nguyễn Văn T: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Pro màu xanh.

Ngày 09/5/2023 Tú và gia đình đã bồi thường trả chị Ly số tiền 3.000.000 đồng, chị Ly đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu, đề nghị gì thêm.

Quá trình điều tra Tú đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu điều tra thu thập được.

Với nội dung trên, Cáo trạng số 102/CT-VKSTPBN ngày 31 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh truy tố Nguyễn Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Quá trình xét hỏi tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo thừa nhận Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là đúng.

Bị hại chị Trần Khánh L vắng mặt tại phiên tòa. Tại các lời khai và tại đơn xin xét xử vắng mặt chị Ly xác nhận đã nhận lại đầy đủ số tiền 3.000.000 đồng nên không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Cao C có mặt trình bày Tú tác động gia đình trả lại chị Ly số tiền 3.000.000 đồng. Ông Cường xác định số tiền 3.000.000 đồng là của ông và không yêu cầu bị cáo phải trả lại.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh giữ quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên Cáo trạng truy tố Nguyễn Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: Khoản 1, Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu xanh, đã qua sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Không

Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định.

- Ý kiến bị cáo: Bị cáo nhất trí với phần luận tội về tội danh và hình phạt.

- Ý kiến ông Cường: Không có ý kiến gì tham gia tranh luận

- Người bào chữa của bị cáo Tú, người đại diện hợp pháp của bị cáo trình bày bản luận cứ: Về tội danh VKS truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự là đúng. Song xét thấy, bị cáo Tú là người dưới 18 tuổi phạm tội và phạm tội lần đầu. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Gia đình bị cáo có công với cách mạng. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nên đề nghị HĐXX áp dụng điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình và áp dụng các quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 29 Bộ luật hình sự và áp dụng biện pháp giáo dục tại xã từ 12 tháng đến 18 tháng để tạo điều kiện cho bị cáo đi học cũng như sau này tìm kiếm việc làm, không phải chịu đánh giá xã hội.

- Đại diện VKS đối đáp: Với tính chất của tội phạm, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì bị cáo có thể được miến truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 29 Bộ luật hình sự, tuy nhiên, xét bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nhưng bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, trước khi phạm tội, bị cáo đã tìm hiểu phương thức phạm tội, cách thức thực hiện tội phạm và chuẩn bị hình ảnh, thông tin nhà trọ trên mạng, thông tin tài khoản của người có thể nhận tiền để chuẩn bị cho việc phạm tội cho thấy sự mức độ tinh vi hành vi phạm tội của bị cáo nên cần phải cần phải có hình phạt mới có tác dụng, răn đe đối với bị cáo. Đồng thời, Viện kiểm sát đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục vẫn tạo điều kiện cho bị cáo được đi học, ổn đinh cuộc sống. Vậy, đại diện VKS vẫn giữ nguyên mức hình phạt đối với bị cáo, đề nghị HĐXX xem xét.

- Lời nói sau cùng của bị cáo Tú: Bị cáo đã ăn năn về hành vi của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng: Đã thực hiện theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng. Vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với không gian, phù hợp với thời gian, địa điểm, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ thấy đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 20/02/2023, thông qua mạng xã hội Facebook, Zalo, Nguyễn Văn T đã có hành vi gian dối trong việc cho thuê phòng trọ tại: “Địa chỉ: ngõ 126 Hoàng Quốc Việt, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội với giá thuê phòng 3 triệu/ tháng” để lừa đảo chiếm đoạt của chị Ly số tiền 3.000.000 đồng. Số tiền này Tú đã chi tiêu cá nhân hết.

Vậy, cáo trạng truy tố số 102/CT-VKSTPBN ngày 31 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 BLHS là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bằng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt của chị Ly số tiền 3.000.000 đồng, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật hình sự bảo vệ. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, nhân thân của bị cáo:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và đã tác động đến gia đình để khắc phục, bồi thường toàn bộ hậu quả cho bị hại. Bị cáo có ông ngoại, bà nội là người có công với cách mạng, được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng Nhì. Bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo HĐXX xét thấy tại cơ quan điều tra bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Do bị cáo chưa thành niên chưa thể làm chủ được bản thân mới dẫn đến hành vi phạm tội. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ để răn đe và giáo dục bị cáo.

Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy mức án mà Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người dưới 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Trần Khánh L đã nhận lại được tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Cường không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền ông Cường đã bồi thường cho bị hại nên không xem xét.

Về tang vật chứng: Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu xanh đã qua sử dụng là phương tiện bị cáo dùng để phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Khoản 1, Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 47; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự. Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Uỷ ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải cháp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

- Về vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Pro màu xanh, đã qua sử dụng, số IMEI 354991557667013 kèm 01 sim (Theo biên bản giao nhận tài sản, vật chứng ngày 01/6/2023 giữa Công an thành phố Bắc Ninh với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh).

- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả bản án hoặc từ ngày niêm yết kết quản bản án theo quy định.

Cỡ chữ