vanban.org

Bản án 141/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Minh H về việc ly hôn với chị Nguyễn Kiều D.

Về con chung: Tiếp tục giao các cháu Nguyễn Minh H1, sinh ngày 10/5/2011 (Giới tính: Nam) và Nguyễn Vi T, sinh ngày 21/11/2013 (Giới tính: Nam) cho anh Nguyễn Minh H được trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Kiều D không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "nguyễn minh h"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Minh H về việc ly hôn với chị Nguyễn Kiều D.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 141/2023/HNGĐ-ST
Ngày 11-5-2023
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Huỳnh Hưỡng

2. Ông Duyên Văn Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Hường - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Ngày 11 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 206/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2023/QĐXX-ST ngày 04 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Minh H, sinh năm 1981 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp G, xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Chị Nguyễn Kiều D, sinh năm 1990 (vắng mặt).

Địa chỉ: Khóm F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 20/3/2023 và tại phiên tòa anh Nguyễn Minh H trình bày: Anh và chị Nguyễn Kiều D chung sống với nhau từ năm 2012, hôn nhân tự nguyện; có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Cà Mau (theo giấy chứng nhận kết hôn số 62 ngày 20/4/2012). Nguyên nhân dẫn đến ly hôn là trong thời gian chung sống lúc đầu sống hạnh phúc nhưng về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cải với nhau, chị D đã bỏ nhà đi từ tháng 4/2022 cho đến nay. Xét thấy hôn nhân không hạnh phúc, anh xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được. Nay anh yêu cầu được ly hôn với chị D.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống anh và chị D có 02 người con tên Nguyễn Minh H1, sinh ngày 10/5/2011 và Nguyễn Vi T, sinh ngày 21/11/2013, hiện đang sống chung với anh H. Khi ly hôn anh yêu cầu giải quyết cho anh được trực tiếp nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Anh yêu cầu được nhận 5.000.000 đồng và 01 chỉ vàng 24k.

-Bị đơn chị Nguyễn Kiều D: Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng nhưng chị Nguyễn Kiều D vẫn vắng mặt không lý do; không có văn bản nêu ý kiến gửi đến Tòa án.

Tại phiên tòa anh yêu cầu được ly hôn, yêu cầu trực tiếp nuôi các con. Đối với tài sản chung anh xin rút lại không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn chị Nguyễn Kiều D có nơi cư trú tại khóm F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Anh Nguyễn Minh H khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với chị Nguyễn Kiều D tranh chấp về nuôi con chung. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung" theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Anh H là người khởi kiện nên xác định tư cách đương sự anh H là nguyên đơn, chị D là bị đơn được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Anh H có mặt, chị D vắng mặt; Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Anh H và chị D không còn tình cảm thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau, chị và anh đã vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, anh và chị đã sống ly thân hơn 01 năm nay. Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh H, cho anh H được ly hôn với chị P.

Về con chung: Anh H và chị D có 02 người con chung tên Nguyễn Minh H1, sinh ngày 10/5/2011 và Nguyễn Vi T, sinh ngày 21/11/2013. Khi ly hôn anh yêu cầu được trực tiếp nuôi con.

Xét, con chung tên Nguyễn Minh H1 và Nguyễn Vi T. Hiện nay các cháu đang sống cùng với anh H, từ khi anh và chị D sống ly thân đến nay các cháu sống cùng với anh H, gần gũi với anh, ổn định về thời gian, phát triển tốt về mọi mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, tiếp tục giao cháu H1 và T cho anh Nguyễn Minh H được trực tiếp nuôi dưỡng (Phù hợp với ước nguyện của các cháu H1 và T tại biên bản ghi ý kiến ngày 27/3/2023). Chị D không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản.

Về cấp dưỡng: Anh H không đặc ra, chị D không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ: Anh H xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc anh H phải chịu tiền án phí sơ thẩm về hôn nhân.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 và khoản 3 Điều 68, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81 Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Minh H về việc ly hôn với chị Nguyễn Kiều D.

- Về con chung: Tiếp tục giao các cháu Nguyễn Minh H1, sinh ngày 10/5/2011 (Giới tính: Nam) và Nguyễn Vi T, sinh ngày 21/11/2013 (Giới tính: Nam) cho anh Nguyễn Minh H được trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Kiều D không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản.

2. Về án phí: Anh Nguyễn Minh H phải nộp số tiền 300.000 đồng; cùng ngày 20/3/2023 anh H đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006398 và 300.000 đồng theo lai thu số 0006397 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, nay được chuyển thu án phí. Anh H được nhận lại 300.000 đồng

3. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ