vanban.org

Bản án 141/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 26/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 29/9/2022. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Tĩnh - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:141/2022/HS-ST
Ngày 26/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thảo và bà Lý Thị Nhân

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2022, tại nhà văn hóa tổ dân phố 1, phường Hưng Thành, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 133/2022/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2022/QĐXXST-HS ngày 13/12/2022, đối với bị cáo:

Phạm Văn T, sinh ngày 13/12/1970 tại tỉnh Tuyên Quang.

Nơi cư trú: Tổ dân phố X, phường N, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang;

Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam;tôn giáo: không; trình độ học vấn: 05/10; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Phạm Văn H (đã chết) và bà Đinh Thị X (đã chết); vợ: Hà Thị H (đã chết); con: có 02 con; lớn sinh năm 1999 nhỏ sinh năm 2004.

* Tiền án, tiền sự: Không

* Nhân thân:

- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 28 ngày 30/01/1994 của UBND xã Nông Tiến, thị xã Tuyên Quang (nay là phường Nông Tiến, thành phố Tuyên Quang) đối với Phạm Văn T về hành vi Tổ chức dùng trái phép chất ma túy.

- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 10 ngày 10/01/1995 của UBND xã Nông Tiến, thị xã Tuyên Quang (nay là phường Nông Tiến, thành phố Tuyên Quang) đối với Phạm Văn T về hành vi Tổ chức dùng trái phép chất ma túy.

- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 241 ngày 18/7/1995 của Công an thị xã Tuyên Quang (nay là thành phố Tuyên Quang) đối với Phạm Văn T về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.

- Quyết định về việc đưa đối tượng nghiện hút ma túy vào chữa bệnh tại Trung tâm bảo trợ xã hội số 347 ngày 16/4/1996 của UBND tỉnh Tuyên Quang đối với Phạm Văn T từ ngày 20/4/1996 đến ngày 20/10/1996.

- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 85 ngày 24/6/2007 của Công an thị xã Tuyên Quang (nay là thành phố Tuyên Quang) đối với Phạm Văn T về hành vi Đánh bạc.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/9/2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 29/9/2022, Phạm Văn T, trú tại Tổ X, phường N, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang một mình đi bộ từ nhà đến khu vực ngã ba dốc Đỏ thuộc phường Nông Tiến, thành phố Tuyên Quang, sau đó đi xe ôm của một người (không xác định được họ tên, địa chỉ, biển số xe) đến khu vực đầu cầu Chả thuộc tổ dân phố 01, phường Tân Quang, mục đích tìm mua Heroine về sử dụng. Khi đến khu vực đầu cầu Chả, Tĩnh xuống xe đi bộ thì gặp và hỏi mua được của một người đàn ông (theo Tĩnh khai tên Cường, không xác định được họ, tên đệm, địa chỉ) 02 gói nhỏ Heroine bọc bên ngoài bằng lớp giấy màu trắng tím với số tiền 400.000 đồng. Tĩnh cầm gói Heroine vừa mua được trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ dọc theo đường Phạm Văn Đồng tìm chỗ vắng người để sử dụng. Khi đến khu vực ngã ba rẽ vào Bến Đất thuộc tổ dân phố 01, phường Hưng Thành, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang thì bị Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Tuyên Quang phát hiện, yêu cầu kiểm tra, Tĩnh đã tự giác giao nộp số Heroine trên. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 16 giờ 30 phút cùng ngày; thu giữ, niêm phong vật chứng và tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy trong cơ thể Tĩnh, kết quả (+) dương tính, có chất ma túy trong cơ thể. Tĩnh khai nhận ngày 28/9/2022 đã sử dụng ma túy tại nhà do mua của Cường tại khu vực đầu cầu Chả thuộc tổ dân phố 01, phường Tân Quang, thành phố Tuyên Quang.

Bản Kết luận giám định số 1192/KL-KTHS ngày 03/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Mẫu vật thu giữ của Phạm Văn T gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,151g (Không phẩy một năm một gam).

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 phong bì niêm phong trên các mép dán có chữ ký của Phạm Văn T, chữ ký của các thành phần tham gia, có 05 hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, bên trong có chứa 0,101 gam Heroine (số còn lại sau khi lấy mẫu giám định) là vật chứng của vụ án.

Từ nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 145/CT-VKSTP ngày 29 tháng 11 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Phạm Văn T từ 01 năm 02 tháng tù đến 01 năm 05 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 29/9/2022. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo; xử lý vật chứng (tịch thu, tiêu hủy số heroin còn lại sau giám định). Tuyên án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo cho bị cáo Phạm Văn T theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra, bị cáo Phạm Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục nhận tội, nội dung khai báo của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, không có tình tiết gì mới; bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tuyên Quang; bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình.

Kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố các Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, từ chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Hồi 16 giờ 30 phút ngày 29/9/2022, tại tổ dân phố 01, phường Hưng Thành, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang; Phạm Văn T, trú tại Tổ X, phường N, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,151g (Không phẩy một năm một gam) Heroine, mục đích để sử dụng.

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, mục đích để sử dụng cho nhu cầu nghiện ma túy của bản thân. Do vậy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Văn T không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn khai báo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

. Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân thường gây ra các tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Bị cáo đã nhiều lần bị chính quyền địa phương xử phạt về hành vi tổ chức dùng trái phép chất ma túy, sử dụng trái phép chất ma túy, đánh bạc và là đối tượng nghiện hút đã đi chữa bệnh tại Trung tâm bảo trợ xã hội nhưng vẫn không cố gắng, không lấy đó là bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân. Vì vậy cần phải có mức hình phạt tù nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo tại cơ sở giam giữ một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời góp phần vào công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

Căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, khối lượng chất ma tuý mà bị cáo tàng trữ, cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, có căn cứ.

. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo nghề nghiệp và thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

. Về vật chứng: Đối với khối lượng ma túy còn lại (sau khi giám định) đã thu giữ của bị cáo được niêm phong theo quy định là vật chứng của vụ án thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 28/9/2022 của Phạm Văn T, ngày 19/10/2022, Công an thành phố Tuyên Quang đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1024, hình thức phạt tiền.

Đối với người đàn ông theo Phạm Văn T khai tên Cường đã bán ma túy cho Tĩnh vào các ngày 28, 29/9/2022 tại khu vực đầu cầu Chả thuộc tổ dân phố 01, phường Tân Quang, nhưng không xác định được họ, tên, tuổi, địa chỉ cụ thể không có căn cứ xem xét, xử lý trong vụ án này nên HĐXX không xem xét.

. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

- Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

- Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 29/9/2022.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu huỷ 0,101g (không phẩy một không một gam) chất bột vón cục màu trắng (số còn lại sau giám định) cùng bao gói được niêm phong trong một phong bì , bên ngoài mặt trước phong bì ghi “Tang vật vụ Phạm Văn T giám định ngày 29/9/2022””, mặt sau phong bì có chữ ký của Phạm Văn T, thành phần tham gia niêm phong cùng 05 (năm) hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tuyên Quang.

Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố Tuyên Quang và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang ngày 07/12/2022).

3. Căn cứ khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Văn T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./. Nơi nhận:

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Tuyên Quang;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Tuyên Quang;

- Công an tỉnh Tuyên Quang;

- Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang;

- VKSND TP Tuyên Quang;

- Công an TP Tuyên Quang;

- Chi cục THA.DS TP. Tuyên Quang;

- Bị cáo;

- Hồ sơ vụ án hình sự + Lưu HS

Nguyễn Thị Thu Hà

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Thị Thảo – Lý Thị Nhân

Nguyễn Thị Thu Hà

Cỡ chữ