- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn Miêu phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ su…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn M phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỈNH LẠNG SƠN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 141/2022/HS-ST Ngày 28 - 10 - 2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Phương Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Xuân Quý
Bà Lăng Thị Lê Thùy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Hữu Hà, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thanh Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 10 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 131/2022/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 138/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:
Hoàng Văn M, sinh ngày 20 tháng 11 năm 1984 tại tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn K, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Khải X (đã chết) và bà Hoàng Thị T (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị V và 01 con; tiền án: Không; tiền sự: 01 tiền sự về hành vi đánh bạc theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 78/QĐ-XPHC ngày 08/6/2021 của Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 1.500.000đồng, đã nộp phạt ngày 09/6/2021; nhân thân: Chưa từng bị kết án, xử lý kỷ luật; bị bắt, tạm tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/8/2022 cho đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Bà Hứa Thị H, sinh năm 1968. Trú tại: Thôn C, xã Y, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đoàn Thế H1, sinh năm 1996. Trú tại: Số nhà *, tổ *, khối **, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 03/4/2022, Hoàng Văn M gọi điện thoại cho bà Hứa Thị H hỏi mượn chiếc xe môtô Honda Future biển kiểm soát 12U1-101.14 của bà Hứa Thị H đi giải quyết việc cá nhân. Bà Hứa Thị H đồng ý nhưng do bà Hứa Thị H về quê nên bảo Hoàng Văn M đến phòng trọ của mình lấy xe và giao hẹn khi nào bà Hứa Thị H ra thành phố L thì Hoàng Văn M phải trả xe cho bà Hứa Thị H. Bà Hứa Thị H gửi chìa khóa phòng trọ bằng xe khách cho Hoàng Văn M, khoảng 10h cùng ngày Hoàng Văn M đến phòng trọ của bà Hứa Thị H tại số */* đường L, phường V, thành phố L để lấy xe đi giải quyết việc riêng. Ngày 05/4/2022 khi bà Hứa Thị H trở về phòng trọ, bà Hứa Thị H đề nghị Hoàng Văn M trả xe, do Hoàng Văn M đang cho bạn mượn chiếc xe mô tô trên nên chưa trả cho bà Hứa Thị H. Tối ngày 06/4/2022 Hoàng Văn M cùng một số người bạn đi hát Karaoke tại quán D tại khu N*, thị trấn C, huyện C, tỉnh Lạng Sơn đến khoảng 01h sáng ngày 07/4/2022 thì ra về. Khi thanh toán tiền hát, do không có đủ tiền trả Hoàng Văn M đã cầm cố chiếc xe môtô Future biển kiểm soát 12U1-101.14 cho anh Đoàn Thế H1 là quản lý quán hát và hẹn sẽ mang tiền đến trả để lấy xe môtô về sau, nhưng đến tháng 8 năm 2022 Hoàng Văn M không đến lấy xe về trả cho bà Hứa Thị H. Sau khi cầm cố chiếc xe, Hoàng Văn M chuyển nơi ở và tránh mặt bà Hứa Thị H. Ngày 02/8/2022, bà Hứa Thị H nộp đơn trình báo đề ngày 31/7/2022 đến Công an phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn về sự việc trên.
Tại Kết luận định giá tài sản tố tụng hình sự số 59/KL-HĐĐGTS ngày 03/8/2022 của Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự xác định: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future màu đen, đỏ, xám biển kiểm soát 12U1-101.14 số khung 7619GZ050728, số máy JC76E0074799 thời điểm tháng 8 năm 2022 trị giá 16.000.000đồng.
Quá trình điều tra, anh Đoàn Thế H1 khai: Tối ngày 06/4/2022 Hoàng Văn M cùng một nhóm người vào quán hát D đến 01 giờ sáng ngày 07/4/2022 thì nghỉ, số tiền phải thanh toán là 5.800.000đồng, Hoàng Văn M trả 800.000đồng và đề nghị cầm cố xe mô tô với số tiền 5.000.000đồng mấy ngày sau sẽ quay lại lấy xe, tuy nhiên mấy tháng sau cũng không thấy đến lấy xe và trả tiền, ngày 02/8/2022 Công an phường V đến làm việc thông báo cho biết chiếc xe là tang vật của vụ án nên anh Đoàn Thế H1 đã tự nguyện giao nộp chiếc xe môtô Honda Future biển kiểm soát 12U1-101.14 cho Cơ quan điều tra và yêu cầu Hoàng Văn M bồi thường 5.000.000đồng. Anh Đoàn Thế H1 không biết tài sản do phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý trong vụ án.
Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Hứa Thị H chiếc xe môtô Honda Future biển kiểm soát 12U1-101.14, sau khi nhận bà Hứa Thị H không có ý kiến yêu cầu bồi thường.
Với nội dung trên, tại Cáo trạng số 128/CT-VKS ngày 06/10/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố Hoàng Văn M về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, bị cáo biết hành vi của mình là sai và đồng ý bồi thường thiệt hại cho anh Đoàn Thế H1 số tiền 5.000.000đồng do thanh toán thiếu khi hát karaoke tại quán Karaoke anh Hùng quản lý.
Bị hại bà Hứa Thị H vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra đã trình bày: Khoảng 10 giờ ngày 03/4/2022 khi đang ở nhà tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn, bà Hứa Thị H được bị cáo Hoàng Văn M hỏi mượn xe mô tô để đón vợ ở Thất Khê và hẹn khi nào bà Huệ ra phòng trọ thì M trả xe, bà Hứa Thị H đồng ý và gửi chìa khóa xe qua xe khách cho M để M đến phòng trọ của bà Hứa Thị H tại đường L, phường V, thành phố L lấy xe. Tuy nhiên, sau khi từ quê lên phòng trọ, bà Hứa Thị H gọi điện nhiều lần cho Hoàng Văn M để yêu cầu trả xe, nhưng đã mấy tháng mà chưa trả nên bà đã làm đơn trình báo đến Công an phường V để được giải quyết. Đến nay bà Hứa Thị H đã nhận lại chiếc xe nguyên vẹn, không hỏng hóc gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Đoàn Thế H1 trình bày anh là người quản lý việc thu chi của quán hát karaoke D, nội dung khai với cơ quan điều tra về việc giữ chiếc xe mô tô Future biển kiểm soát 12U1-101.14 với bị cáo Hoàng Văn M anh giữ nguyên, tại phiên tòa hôm nay, anh Đoàn Thế H1 đề nghị bị cáo Hoàng Văn M phải trả cho anh số tiền 5.000.000đồng do ngày 06/4/2022 bị cáo Hoàng Văn M chưa thanh toán đủ số tiền hát karaoke.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Văn M phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 175; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Văn M từ 12 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù từ ngày 04/8/2022; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Hoàng Văn M về việc bị cáo có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho anh Đoàn Thế H1 số tiền 5.000.000đồng.
Về xử lý vật chứng: Không có.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật để sớm trở về với gia đình, xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có ai có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thực hiện đều hợp pháp.
Về tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt bị hại nhưng bị hại bà Hứa Thị H đã có lời khai trong quá trình điều tra và đơn đề nghị xét xử vắng mặt, việc xét xử vắng mặt bị hại không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về trách nhiệm hình sự: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay đều phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, với lời khai của người tham gia tố tụng khác, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định: Bị cáo Hoàng Văn M lợi dụng sự tin tưởng của bị hại bà Hứa Thị H để mượn chiếc xe mô tô Honda Future biển kiểm soát 12U1-101.14 với mục đích ban đầu sử dụng việc cá nhân, sau đó ngày 07/4/2022, do thanh toán tiền hát karaoke cho anh Đoàn Thế H1 thiếu 5.000.000đồng, bị cáo Hoàng Văn M tự ý cầm cố chiếc xe mô tô của bà Hứa Thị H cho anh Đoàn Thế H1 và hẹn sẽ đến trả tiền và lấy lại xe, tuy nhiên, sau khi bà Hứa Thị H yêu cầu trả xe, bị cáo trốn tránh bà Hứa Thị H và chuyển nơi ở mới nhằm chiếm đoạt tài sản và đến nay bị cáo không có khả năng lấy xe trả cho bà Hứa Thị H. Theo Kết luận định giá, chiếc xe mô tô của bà Hứa Thị H mà bị cáo Hoàng Văn M cầm cố có giá trị là 16.000.000đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ căn cứ để xác định bị cáo phạm vào tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có trình độ hiểu biết pháp luật, nhận thức được hành vi lợi dụng lòng tin để chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Để có mức án tương xứng với hành vi của bị cáo, Hội đồng xét xử đánh giá về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo như sau:
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, ngoài ra bị cáo có bố đẻ được tặng Huân chương kháng chiến vào năm 1995 và mẹ đẻ được tặng bằng khen vào năm 2007 do đều có công trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, vì vậy bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về nhân thân: Bị cáo chưa từng bị kết án, bị xử lý kỷ luật nhưng bị cáo có nhân thân chưa tốt do đang có một tiền sự về hành vi đánh bạc theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 78/QĐ-XPHC ngày 08/6/2021 của Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn, xử phạt 1.500.000đồng.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhận thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định phù hợp với hành vi mà bị cáo đã gây ra để cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
Về việc áp dụng hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định, tài sản riêng vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo không có trách nhiệm bồi thường thiệt hại với bị hại Hứa Thị H do bị hại không có yêu cầu. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bị cáo Hoàng Văn M đồng ý bồi thường cho anh Đoàn Thế H1 số tiền 5.000.000đồng do chưa trả đủ tiền hát karaoke như yêu cầu của anh Đoàn Thế H1, Hội đồng xét xử nhận thấy sự tự nguyện của bị cáo về việc bồi thường phù hợp quy định của pháp luật cần được ghi nhận.
Về việc xử lý vật chứng: Không có.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch để nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xét thấy, nội dung đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 175; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự; khoản 2, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn M phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
2. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn M 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/8/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo về việc bồi thường thiệt hại cho anh Đoàn Thế H1, cụ thể như sau, bị cáo Hoàng Văn M phải bồi thường thiệt hại cho anh Đoàn Thế H1 số tiền 5.000.000đồng (năm triệu đồng).
Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo chưa thi hành xong khoản tiền trên, thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn chưa thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
4. Về xử lý vật chứng: Không có.
5. Về án phí: Buộc bị cáo Hoàng Văn M phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND TP. Lạng Sơn; - Công an TP. Lạng Sơn; - Cơ quan THAHS Công an TP. Lạng Sơn; - Nhà tạm giữ; - Chi cục THADS TP. Lạng Sơn; - Bị cáo; Bị hại; NCQLNVLQ; - Lưu hồ sơ vụ án; HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Thị Phƣơng Thảo |