vanban.org

Bản án 141/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 15/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Quang Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt Nông Quang Đ 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày 04/10/2022. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Quang Đ phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Quang Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRÙNGKHÁNH
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 141/2022/HS-ST
Ngày 15-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Văn Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Nông Thế Hạp.

+ Ông Hoàng Văn Xuân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh tham gia phiên tòa: Bà Lục Thị Liễu - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 12 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 144/2022/TLST-HS ngày 30/11/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 140/2022/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo: Nông Quang Đ, tên gọi khác: không. Sinh ngày 0x tháng x năm 200x tại huyện T, tỉnh Cao Bằng.

Nơi ĐKHKTT: Xóm N, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Chỗ ở hiện nay: Xóm K, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn 10/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nông Văn Đ và bà Trương Thị H; Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/10/2022 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.

Người bào chữa: Luật sư Đinh Thị Hà - Thuộc Văn phòng Luật sư Đinh Thị Hà (Đoàn Luật sư tỉnh Cao Bằng). Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 00 ngày 04/10/2022, Công an xã Cao Chương làm nhiệm vụ tại khu vực đầu cầu treo thuộc xóm Thang Sặp, xã Cao Chương, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng phát hiện Nông Quang Đ có biểu hiện nghi vấn. Kiểm tra phát hiện trong túi quần phía trước bên phải Đ đang mặc có 01 gói nhỏ được gói bằng giấy vệ sinh màu trắng, bên trong là lớp giấy trắng có dòng kẻ ngang, mở bên trong có chứa chất bột màu trắng. Đ khai nhận là ma tuý, loại heroine, Đ mua về để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ số vật chứng trên theo đúng quy định.

Ngày 05/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại. Kết quả cân số chất bột màu trắng thu giữ của Nông Quang Đ có khối lượng 0,28g (không phẩy hai mươi tám gam). Tại kết luận giám định số 306/KL-KTHS ngày 13/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: Mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Heroine.

Tại cơ quan điều tra, Nông Quang Đ khai nhận, bị cáo sử dụng ma tuý từ cuối năm 2020. Để có ma tuý sử dụng, khoảng 17 giờ 00 ngày 04/10/2022, Đ một mình bước bộ từ nhà đến xóm Bản Pát, xã Cao Chương, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng tìm mua ma tuý. Đến gần nhà văn hoá xóm Bản Pát, Đông gặp một người đàn ông tên Hưng, không rõ họ tên đệm, địa chỉ. Đ mua ma tuý với người này với số tiền 400.000 đồng. Mua được ma tuý, Đ cất giấu vào trong túi quần rồi đi theo đường cũ để về nhà. Khi gần đến cầu treo xóm Thang Sặp, xã Cao Chương, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng thì bị Công an xã Cao Chương phát hiện, bắt quả tang.

Tại bản Cáo trạng số: 148/CT-VKSTK ngày 29/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng đã truy tố Nông Quang Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai: Bản thân sử dụng ma túy nên đã mua về để sử dụng. Nguồn gốc số ma túy thu giữ là do bị cáo mua với một người đàn ông tên Hưng, không rõ họ tên đệm, địa chỉ với số tiền 400.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nông Quang Đ từ 12 (mười hai) tháng đến 15 (mười lăm) tháng tù. Về vật chứng đề nghị tịch thu tiêu hủy số heroine thu giữ và buộc bị cáo chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo phát biểu tranh luận tại phiên tòa: Đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh về tội danh và điều luật đối với bị cáo. Tuy nhiên, do bị cáo còn trẻ tuổi, nhận thức pháp luật còn hạn chế, trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, do nghiện nên bị cáo mới phạm tội; Khi phạm tội bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình. Vì vậy đề nghị hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức thấp nhất đề nghị của Kiểm sát viên là 12 tháng tù.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trùng Khánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về các yếu tố cấu thành tội phạm: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, hoàn toàn phù hợp với các lời khai tại Cơ quan Điều tra, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ nên có cơ sở để kết luận: Hồi 18 giờ 00 phút ngày 04/10/2022, tại khu vực đầu cầu treo thuộc xóm Bản Pát, xã Cao Chương, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, Công an xã Cao Chương, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng bắt quả tang Nông Quang Đ đang tàng trữ trái phép 0,28 gam ma túy, loại Heroine. Nông Quang Đ tàng trữ trái phép chất ma túy để bản thân sử dụng.

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật, là nguyên nhân tan vỡ hạnh phúc của nhiều gia đình khác, làm cho các loại tội phạm khác ngày càng gia tăng, nhưng vì nghiện và lệ thuộc vào ma túy nên bất chấp thực hiện với lỗi cố ý, đồng thời khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,28 gam Heroine là tình tiết định khung được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, hành vi của bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hội đồng xét xử nhận thấy mức hình phạt mà Kiểm sát viên và người bào chữa đưa ra là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được xem xét khi lượng hình.

. Về vật chứng: Số Heroine thu giữ là mặt hàng Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy;

. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người sử dụng ma túy, không có công việc thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ.

. Về nguồn gốc ma túy thu giữ: Bị cáo khai được mua với một người đàn ông tên Hưng, không rõ họ tên đệm, địa chỉ. Do đó Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện không có căn cứ xử lý đối với người này là đúng quy định của pháp luật.

. Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Quang Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt Nông Quang Đ 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày 04/10/2022.

3. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc phong bì thư đã được niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng vụ Nông Quang Đ Tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 04/10/2022”.

Xác nhận số vật chứng trên đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Nông Quang Đ phải chịu 200.000đ, tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bào chữa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ