- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Huỳnh Thị Đ phạm tội: “Đánh bạc” - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 141/2022/HS-ST Ngày: 27-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Gia và ông Trịnh Ngọc Thành
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Xuân Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoàng Tuấn – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 159/2022/TLST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 156/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2022 và Thông báo thay đổi lịch xét xử số 1000/TB-TAH ngày 19 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Huỳnh Thị Đ (Tên gọi khác: Huỳnh N) – sinh năm 1966, tại Quảng Nam
Nơi cư trú: Ấp Ngọc Lâm 2, xã Phú Xuân, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 0/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh T (đã chết) và bà Huỳnh C (đã chết); Có chồng là Trần Văn L – sinh năm 1962; Có 03 (Ba) con, lớn nhất sinh năm 1985 và nhỏ nhất sinh năm 1998; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/8/2022 đến ngày 23/8/2022, hiện nay bị cáo tại ngoại. (Có mặt)
- Người làm chứng: (Vắng mặt)
1/ Ông Võ Hồng N – sinh năm 1975
Địa chỉ: Khu x, thị trấn T.P, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
2/ Ông Thái Thoại T – sinh năm 1973
Địa chỉ: Khu x, thị trấn T.P, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
3/ Ông Trần Văn Đ – sinh năm 1994
Địa chỉ: Khu x, thị trấn T.P, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
4/ Bà Đặng Thị Ngọc H – sinh năm 1963
Địa chỉ: Khu x, thị trấn T.P, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
5/ Bà Đoàn Thị P – sinh năm 1980
Địa chỉ: Ấp y, xã T.C, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
6/ Bà Lê Thị H1 – sinh năm 1982
Địa chỉ: Ấp z, xã P.L, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
7/ Bà Lê Thị M – sinh năm 1957
Địa chỉ: Ấp z, xã P.L, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
8/ Bà Nguyễn Thị Tuyết M2 – sinh năm 1968
Địa chỉ: Khu x, thị trấn T.P, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
9/ Ông Võ Duy Th – sinh năm 1979
Địa chỉ: Khu x, thị trấn T.P, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
10/ Bà Phạm Thị Kiều Th2 – sinh năm 1982
Địa chỉ: Thôn k, xã B.M, huyện B.Đ, tỉnh Bình Phước.
11/ Bà Phan Thị Mỹ L – sinh năm 1966
Địa chỉ: Khu phố l, phường T.D, thành phố B.H, tỉnh Đồng Nai.
12/ Bà Phạm Thị H – sinh năm 1969
Địa chỉ: Khu m, thị trấn T.P, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 15 giờ 30 phút ngày 26/6/2020, tại khu đất rẫy của Thái Thoại T thuộc Ấp z, xã T.C, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, Công an xã T.C, huyện Tân Phú phát hiện lập biên bản bắt quả tang đối với Trần Văn Đ, Nguyễn Thị Tuyết M2, Võ Duy Th, Đoàn Thị P, Đặng Thị Ngọc H, Lê Thị M, Huỳnh Thị Đ, Lê Thị H1, Phạm Thị Kiều Th2 về hành vi đánh bạc trái phép. Tang vật thu giữ gồm: Số tiền 3.100.000 đồng, 01 chiếc chiếu, 04 bộ bài tây 52 lá, 01 võng dây. Ngoài ra còn thu giữ số tiền trên người của Phạm Thị Kiều Th2 300.000 đồng, Lê Thị H1 150.000 đồng, Nguyễn Thị Tuyết M2 6.300.000 đồng, Lê Thị M 500.000 đồng, Đặng Thị Ngọc H 520.000 đồng, Đoàn Thị P 500.000 đồng, Trần Văn Đ 900.000 đồng, Võ Duy Th 13.235.000 đồng và một số đồ vật, tài liệu khác.
Quá trình điều tra xác định được như sau: Từ ngày 23/6/2020, Võ Hồng N là người đứng ra tổ chức sòng bạc cho những người khác tham gia việc đánh bạc. Để tổ chức đánh bạc, N thuê khu đất rẫy của Thái Thoại T tại Ấp 4, xã T.C, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Đồng thời, N phân công cho T đứng canh gác ở đầu đường vào sới bạc nhằm tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng và khi con bạc có nhu cầu thì T sẽ dùng xe mô tô chở vào sới bạc để tham gia đánh bạc. Ngoài ra, N còn thuê Trần Văn Đ là người giám sát và thu tiền xâu từ người chơi, cụ thể là mỗi ván Đ sẽ thu của người làm cái 25.000 đồng, nếu ván đó người làm cái thắng thì thu thêm 25.000 đồng nữa, cuối mỗi ngày thì Đ sẽ đưa lại số tiền xâu đã thu cho N. Buổi trưa ngày 26/6/2020, Nguyễn Thị Tuyết M2, Võ Duy Th, Đoàn Thị P, Đặng Thị Ngọc H, Lê Thị M, Huỳnh Thị Đ, Lê Thị H1, Phạm Thị Kiều Th2 cùng nhau đến sòng bạc do Võ Hồng N, Thái Thoại T, Trần Văn Đ tổ chức tại Ấp 4, xã T.C để đánh bạc. Những người đánh bạc chơi với hình thức binh Ấn Độ (còn gọi là binh 6 lá), cách thức là sử dụng bộ bài tây 52 lá, đánh bài 06 lá tính điểm. Những người đánh bạc gọi là tụ sẽ được người làm cái chia 06 lá bài, chia làm 02 chi, mỗi chi 03 lá, người đánh bài thắng thua với người làm cái, ai cao điểm hơn người làm cái thì người làm cái phải trả tiền cho người đó và ngược lại, số tiền được thua cho mỗi lần đặt từ 50.000 đồng đến 500.000 đồng. Ngoài ra, những người không trực tiếp chơi có thể đặt tiền vào tụ bài của người chơi chính (gọi là ké tụ), rồi căn cứ vào số điểm trên bài của người chơi chính để thắng thua số tiền đặt cược với người làm cái. Đến 15 giờ 30 phút cùng ngày, Công an xã T.C phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ tang vật như đã nêu trên. Qua điều tra người tham gia đánh bạc khai nhận số tiền dùng vào việc đánh bạc và sau khi thắng thua từ việc đánh bạc như sau: Huỳnh Thị Đ 300.000 đồng; Đặng Thị Ngọc H 620.000 đồng; Đoàn Thị P 700.000 đồng; Lê Thị H1 300.000 đồng; Lê Thị M 500.000 đồng; Nguyễn Thị Tuyết M2 6.500.000 đồng; Võ Duy Th 1.800.000 đồng; Phạm Thị Kiều Th2 500.000 đồng. Như vậy, Võ Hồng N, Thái Thoại T, Trần Văn Đ có hành vi tổ chức cho Huỳnh Thị Đ, Đặng Thị Ngọc H, Đoàn Thị P, Lê Thị H1, Lê Thị M, Nguyễn Thị Tuyết M2, Võ Duy Th, Phạm Thị Kiều Th2 đánh bạc trái phép với tổng số tiền là 14.605.000 đồng.
Sau khi phạm tội, Huỳnh Thị Đ bỏ trốn và bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Phú ra Quyết định truy nã, đến ngày 22/8/2022 thì ra đầu thú tại Công an huyện Tân Phú.
Theo Cáo trạng số 150/CT-VKSTP-ĐN ngày 07/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố bị cáo Huỳnh Thị Đ về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú thực hiện quyền công tố đã luận tội, tranh luận, phân tích dấu hiệu phạm tội, đánh giá các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo về tội “Đánh bạc” với mức án từ 06 (Sáu) đến 08 (Tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Về biện pháp tư pháp: Vật chứng của vụ án đã được xử lý xong theo Bản án số 146/2021/HSST ngày 29/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi đánh bạc và đồng ý với tội danh, mức hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố, đề nghị.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi là vi phạm pháp luật, xin được xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Phú, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú:
Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ như Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Bản án số 146/2021/HSST ngày 29/12/2021... Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định:
Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 26/6/2020, tại khu đất rẫy thuộc Ấp z, xã T.C, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, Huỳnh Thị Đ thực hiện hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền hình thức binh Ấn Độ (còn gọi là binh 6 lá) với số tiền là 14.605.000 đồng thì bị Công an xã T.C phát hiện bắt quả tang.
Hành vi của Huỳnh Thị Đ là hành vi đã phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã viện dẫn và truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; ngoài ra còn xem xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, đã lớn tuổi, hiện đang bị bệnh cần thiết thường xuyên điều trị, tự nguyện đầu thú. Các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ quyết định hình phạt:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật hình sự bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an xã hội tại địa phương. Đặc biệt, trong thời điểm hiện nay, tệ nạn cờ bạc diễn ra ngày càng phức tạp và là nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng của các nhóm tội phạm khác. Bị cáo là người đã thành niên nhận thức đầy đủ về hành vi của mình, đã thực hiện hành vi đánh bạc bất hợp pháp.
Đây là vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc trước nhưng thống nhất ý chí cùng thực hiện hành vi phạm tội, với lỗi cố ý. Võ Hồng N là người tổ chức; Thái Thoại T và Trần Văn Đ có vai trò giúp sức cho Võ Hồng N; bị cáo Huỳnh Thị Đ cùng Nguyễn Thị Tuyết M2, Võ Duy Th, Đoàn Thị P, Đặng Thị Ngọc H, Lê Thị M, Lê Thị H1, Phạm Thị Kiều Th2 cùng phạm tội đánh bạc với vai trò là người thực hành. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét đánh giá tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội và vai trò của bị cáo, số tiền đánh bạc nhằm cá thể hóa hình phạt của bị cáo.
Đối với hành vi phạm tội của N, T, Đ, H, P, H1, M, M2, Th, Th2 đã được xử lý theo Bản án số 146/2021/HSST ngày 29/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú cụ thể Võ Hồng N bị xử phạt 01 (Một) năm tù, Thái Thoại T bị xử phạt 55.000.000 đồng (Năm mươi lăm triệu đồng), Trần Văn Đ bị xử phạt 55.000.000 đồng (Năm mươi lăm triệu đồng), Đặng Thị Ngọc H bị xử phạt 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng), Đoàn Thị P bị xử phạt 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng), Lê Thị H1 bị xử phạt 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng), Lê Thị M bị xử phạt 06 (Sáu) tháng tù, Nguyễn Thị Tuyết M2 bị xử phạt 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), Võ Duy Th bị xử phạt 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng), Phạm Thị Kiều Th2 bị xử phạt 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).
Bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng với số tiền không lớn, số tiền đánh bạc của bị cáo tham gia tương đương với bị cáo H1 cùng phạm tội đánh bạc với vai trò là người thực hành. Như vậy, tính chất, mức độ hành vi phạm tội và mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo sẽ tương đương với bị cáo H1.
Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa tội phạm tại địa phương. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như trên nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù đối với bị cáo mà áp dụng hình phạt tiền để sung vào ngân sách Nhà nước cũng thỏa đáng, đủ tác dụng răn đe, thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước.
Về áp dụng hình phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, xét thấy bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, đồng thời không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định, đã bị áp dụng hình phạt chính bằng hình thức phạt tiền nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về biện pháp tư pháp:
Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án đã được xử lý xong theo Bản án số 146/2021/HSST ngày 29/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Các vấn đề khác: Đối với hành vi phạm tội của Võ Hồng N, Thái Thoại T, Trần Văn Đ, Đặng Thị Ngọc H, Đoàn Thị P, Lê Thị H1, Lê Thị M, Nguyễn Thị Tuyết M2, Võ Duy Th, Phạm Thị Kiều Th2 đã được xử lý theo Bản án số 146/2021/HSST ngày 29/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 321; Điều 35, khoản 1 Điều 46, Điều 47; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
- Khoản 2 Điều 106, Khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị Đ phạm tội: “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Đ 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng).
2. Về án phí: Bị cáo Huỳnh Thị Đ phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án ND tỉnh Đồng Nai; - Viện kiểm sát ND tỉnh Đồng Nai; - Viện kiểm sát ND huyện Tân Phú; - Công an huyện Tân Phú; - Chi cục THA dân sự huyện Tân Phú; - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thanh Tùng |