vanban.org

Bản án 141/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 13/07/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 13/07/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Hữu T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 141/2022/HS-PT
Ngày 11-7-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Lê Quân Vương;

Các Thẩm phán:

Ông Trương Văn Lộc;

Ông Nguyễn Văn Tài

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 04 và 11 tháng 7 năm 2022, t i Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 87/TLPT-HS ngày 02 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo Ph m Hữu T. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2022/HS-ST ngày 24 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Dầ, tỉnh Bình Dương.

Bị cáo có kháng cáo: Ph m Hữu T, sinh năm 1979 t i tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ấp 4, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: lái xe; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ph m Văn B và bà Ph m Thị H (đều đã chết); có vợ là bà Bùi Thị Thu H và 03 con; tiền án: không; tiền sự: không.

Nhân thân: ngày 11/3/2005, bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xử ph t 02 năm tù về tội “Vi ph m quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” t i Bản án số 29/2005/HS-ST. Ngày 26/5/2005, Tòa án nhân dân tối cao t i Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm t i Bản án số 862/HS-PT, bị cáo t i ngo i, có mặt.

Trong vụ án còn có 03 bị h i; 01 bị đơn dân sự không có kháng cáo và không bị kháng nghị nên tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Ph m Hữu T có giấy phép lái xe h ng FC theo quy định. Ngày 13/4/2021, bị cáo điều khiển xe ôtô đầu kéo biển kiểm soát 51C-963.86 kéo theo sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 51R-204.71 đi trên tuyến đường ĐT 750 hướng từ thị trấn D về hướng xã L, huyện Dầu Tiếng. Khoảng 03 giờ 20 phút cùng ngày, bị cáo điều khiển xe đến ngã tư giao nhau giữa đường ĐT 750 với đường ĐH 704 thuộc ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương. Cùng lúc này, xe ôtô tải biển kiểm soát 61C-396.84 do bị h i Nguyễn Văn T điều khiển trên đường ĐH 704 hướng từ Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) xã Đ về hướng ấp C, xã T, huyện Dầu Tiếng đến và đã đi qua tâm ngã tư giao nhau giữa đường ĐT 750 với đường ĐH 704. Do bị cáo không chú ý quan sát nên không nhường đường cho xe ôtô tải ben do bị h i Thắng điều khiển dẫn đến va ch m giữa sơ mi rơ moóc của xe ô tô đầu kéo do bị cáo điều khiển va ch m vào đầu xe ôtô tải do bị h i Thắng điều khiển. Bị cáo đánh lái sang phải theo hướng xe bị cáo đang điều khiển làm xe ôtô đầu kéo kéo theo sơ mi rơ moóc đụng vào 02 căn nhà của bị h i Nguyễn Thị L và Trần Thanh P làm đổ 02 căn nhà trên và làm hư hỏng một số tài sản trong nhà; hư hỏng sơ mi rơ moóc của xe ôtô đầu kéo kéo do bị cáo điều khiển; xe ôtô tải biển kiểm soát 61C-396.84 do bị h i Nguyễn Văn T điều khiển bị hư hỏng phần đầu xe.

Biên bản khám nghiệm hiện trường hồi 06 giờ 00 phút, ngày 13/4/2021 thể hiện:

- Đo n đường nơi xảy ra tai n n giao thông là đo n đường nhựa, ngã tư giao nhau giữa đường ĐT 750 với đường ĐH 704 có hệ thống đèn tín hiệu giao thông. Lúc xảy ra tai n n giao thông hệ thống đèn tín hiệu giao thông không ho t động, mặt đường bằng phẳng, tầm nhìn của lái xe không bị che khuất, chiều rộng mặt đường ĐT 750 là 6m00, chiều rộng mặt đường ĐH 704 là 6m00. Hướng UBND thị trấn Dầu Tiếng đi hướng UBND xã L tầm nhìn bị che khuất bởi một căn nhà cấp 4.

- Lấy điểm mốc chuẩn là trụ điện số 163 trong lề trái hướng UBND xã Đ đi hướng ấp C.

- Lấy lề chuẩn là đường thẳng xuyên tâm hướng UBND thị trấn D đi hướng UBND xã L.

- Xác định tâm ngã tư là điểm giao nhau giữa đường thẳng xuyên tâm hướng UBND thị trấn D đi hướng UBND xã L và đường thẳng xuyên tâm hướng UBND xã Đ đi hướng đường ĐT750.

- Xe ô tô tải biển kiểm soát 61C-396.84, số thứ tự 2, dừng l i trên mặt đường, đầu xe quay về hướng ấp C. Hình chiếu vuông góc của tâm đầu trục trước bên phải xuống mặt đường vào lề chuẩn là 2m60, vào tâm là 2m80, hình chiếu vuông góc của tâm đầu trục trước bên trái xuống mặt đường vào lề chuẩn là 2m60, vào tâm là 1m35.

- Xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 51C-963.86, số thứ tự 5, kéo theo sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 51R-204.71, số thứ tự 4, dừng l i trong lề trái hướng UBND xã Đ đi hướng ấp C, đầu xe trong nhà bà Nguyễn Thị L, bị tấm xuy nô nè. Hình chiếu vuông góc của tâm đầu trục thứ nhất bên trái đầu kéo 51C-963.86 xuống mặt đường vào lề chuẩn là 8m00, vào tâm là 12m80, hình chiếu vuông góc của tâm đầu trục thứ ba bên trái đầu kéo 51C-963.86 xuống mặt đường vào lề chuẩn là 5m60, vào tâm là 10m00. Hình chiếu vuông góc của tâm đầu trục thứ ba bên trái đầu kéo 51C-963.86 xuống mặt đường vào lề chuẩn là 8m00, vào tâm là 12m80, hình chiếu vuông góc của tâm đầu trục thứ ba bên trái sơ mi rơ moóc 51R-204.71 xuống mặt đường vào lề chuẩn là 4m90, vào tâm là 1m30.

- Từ trục trước bên trái xe ôtô tải 61C-396.84 đến trục thứ ba bên trái sơ mi rơ moóc 51R-204.71 là 4m30.

- Từ trục trước bên phải xe ôtô tải 61C-396.84 đến trục thứ ba bên phải sơ mi rơ moóc 51R-204.71 là 6m60.

- Trên mặt đường có một vết phanh, số thứ tự 1, kéo dài đến bánh thứ ba bên phải của xe ôtô đầu kéo 51C-963.86, kích thước dài 20m20, rộng 0m45, tâm đầu vết phanh cách lề chuẩn là 2m30, vào tâm là 13m90.

- Trên mặt đường có một vùng mảnh mủ, kiếng vỡ, số thứ tự 3, kích thước dài 4m20, rộng 2m00, tâm vùng cách lề chuẩn là 3m40, vào tâm là 0m40, cách trục trước bên trái xe ôtô tải 61C-396.84 là 1m70, cách trục thứ ba bên trái sơ mi rơ moóc 51R-204.71 là 1m60.

- Xác định vùng va ch m đầu tiên, số thứ tự 6, có đường kính 1m00, tâm vùng cách lề chuẩn là 3m50, vào tâm là 3m80, cách trục trước bên trái xe ôtô tải 61C-396.84 là 1m20.

- Từ trụ điện số 163, số thứ tự 7, đến trục trước và trục sau bên trái xe ôtô tải 61C-396.84 là 18m30 và 15m70.

Kết luận giám định số 123/2021/GĐCH-PC09 ngày 08/5/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận:

- Dấu vết va ch m giữa hai phương tiện là:

+ Các dấu vết trượt xước sơn màu xanh, bám dính chất màu trắng (dạng sơn) ở mặt trái thùng rơ moóc biển kiểm soát 51R-204.71, có chiều từ trước về sau phù hợp với các dấu vết trượt xước sơn màu trắng, bám dính chất màu xanh (dạng sơn), cong và rách biến d ng kim lo i ở mặt trước đầu xe ôtô tải biển kiểm soát 61C-396.84, có chiều từ phải qua trái.

+ Các dấu vết trượt xước cao su, bám dính chất màu trắng ở mặt ngoài các bánh xe ngoài bên trái trục 1, 2, 3 rơ moóc biển kiểm soát 51R-204.71, có chiều từ mặt lăn vào vành, ngược chiều quay tiến của bánh xe phù hợp với dấu vết trượt xước bám màng màu đen ở mặt trước cản trước đầu xe ôtô tải biển kiểm soát 61C-396.84, có chiều từ phải qua trái.

Cơ chế hình thành các dấu vết va ch m trên là: Mặt bên trái rơ moóc biển kiểm soát 51R-204.71 được kéo bởi xe ôtô đầu kéo biển kiểm soát 51C-963.86 va ch m với mặt trước đầu xe ôtô tải biển kiểm soát 61C-396.84 t o ra dấu vết trên các phương tiện.

Kết luận định giá tài sản số 32/KLĐG ngày 12/8/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện D kết luận: Tổng cộng giá trị tài sản thiệt h i trong vụ án là 456.908.200 đồng (bốn trăm năm mươi sáu triệu, chín trăm linh tám nghìn hai trăm đồng). Cụ thể như sau:

- Tổng giá trị tài sản thiệt h i nhà bị h i Nguyễn Thị L: 240.725.000 đồng;

- Tổng giá trị tài sản thiệt h i nhà ông Trần Thanh P: 88.683.200 đồng;

- Tổng giá trị thiệt h i đối với xe ô tô tải biển kiểm soát 61C-396.84 là 35.000.000 đồng;

- Tổng giá trị thiệt h i đối với xe ô tô đầu kéo, biển kiểm soát 51C-963.86 là 89.500.000 đồng.

- Tổng giá trị thiệt h i đối với sơ mi rơ moóc, biển kiểm soát 51R-204.71 là 3.000.000 đồng.

Đối với xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát: 51C-963.86; sơ mi rơ moóc, biển kiểm soát: 51R-204.71 do Công ty Cổ phần Logistic Xuân L đứng tên chủ sở hữu hợp pháp; xe ô tô tải biển kiểm soát: 61C-396.84, số máy: EF750006304 do ông Nguyễn Văn T đứng tên chủ sở hữu hợp pháp. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D đã trả l i cho Công ty Cổ phần Logistic Xuân L và ông T (theo Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số 17/QĐ ngày 08/7/2021).

Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị h i Nguyễn Văn Th số tiền 30.000.000 đồng. Công ty Cổ phần Logistic Xuân L đã tự nguyện bồi thường thiệt h i cho bị h i Nguyễn Thị L số tiền 450.000.000 đồng, bồi thường cho bị h i Trần Thanh P số tiền 270.000.000 đồng. Đối với thiệt h i xe ôtô đầu kéo, kéo theo sơ mi rơ moóc, Công ty Cổ phần Logistic Xuân L không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt h i theo Kết luận định giá tài sản, đồng thời không yêu cầu bị cáo thanh toán l i số tiền mà Công ty đã bồi thường cho các bị h i L và P.

T i Cáo tr ng số 01/CT-VKSDT-HS ngày 16/12/2021 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Ph m Hữu T về tội “Vi ph m quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định t i điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự

T i Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2022/HS-ST ngày 24 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Ph m Hữu T ph m tội “Vi ph m quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ vào các Điều 106, 136, 260, 268, 269, 277, 290, 292, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm d khoản 1, khoản 5 Điều 260, Điều 41, Điều 46, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

I. Về hình ph t:

1. Hình ph t chính: Xử ph t bị cáo Ph m Hữu T 01 (một) năm tù. Thời h n tù được tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

2. Hình ph t bổ sung: Cấm bị cáo hành nghề lái xe trong thời h n 01 (một) năm, kể từ ngày bị cáo chấp hành xong hình ph t tù.

II. Trách nhiệm dân sự: Bị h i không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

III. Vật chứng:

- T m giữ 01 (một) Giấy phép lái xe h ng FC số 720103000508, có thời h n đến ngày 05/9/2023 cho đến khi hết thời h n cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo.

- Khi hết thời h n cấm hành nghề lái xe theo điểm 2 Mục I của Quyết định này, Chi cục Thi hành án dân sự huyện D giao trả Giấy phép lái xe h ng FC số 720103000508, có thời h n đến ngày 05/9/2023 cho bị cáo Ph m Hữu T.

(Giấy phép lái xe trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện D đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/01/2022).

Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 28/01/2022, bị cáo Ph m Hữu T nộp đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình ph t và xin hưởng án treo. T i phiên tòa, bị cáo thay đổi kháng cáo chỉ xin được hưởng án treo.

Đ i diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết vụ án: xác định tội danh, điều luật mà Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và áp dụng đối với bị cáo Ph m Hữu T là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo. Xét thấy bị cáo kháng cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ gì mới, bị cáo đã từng bị xét xử về tội “Vi ph m quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” nhưng không lấy đó làm bài học mà l i tiếp tục vi ph m. Mặc dù tai n n do bị cáo gây ra không gây thiệt h i đến tính m ng, sức khỏe của con người nhưng đã gây thiệt h i về tài sản của nhiều bị h i. Cấp sơ thẩm khi xét xử cũng đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo và xử ph t 01 năm tù là phù hợp nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

T i phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi ph m tội và không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo Ph m Hữu T nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét kháng cáo của bị cáo.

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Ph m Hữu T được thực hiện trong thời h n luật định nên đủ điều kiện để Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

[2] T i phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Ph m Hữu T đã khai nhận hành vi ph m tội thống nhất như nội dung bản án sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Do đó, có đủ cơ sở xác định: khoảng 03 giờ 20 phút ngày 13/4/2021, bị cáo điều khiển xe ôtô đầu kéo biển kiểm soát 51C-963.86 kéo theo sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 51R-204.71 đi trên tuyến đường ĐT 750 hướng từ thị trấn D về hướng xã L, huyện D. Khi đến ngã tư giao nhau giữa đường ĐT750 với đường ĐH704 thuộc ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương thì va ch m với xe ôtô tải biển kiểm soát 61C-396.84 do bị h i Nguyễn Văn T điều khiển trên đường ĐH704 hướng từ UBND xã Đ về hướng ấp C, xã T đến và đã đi qua tâm ngã tư giao nhau giữa đường ĐT750 với đường ĐH704. Nguyên nhân do bị cáo không chú ý quan sát nên không nhường đường cho xe ôtô tải ben do bị h i Th điều khiển dẫn đến va ch m giữa sơ mi rơ moóc của xe ô tô đầu kéo do bị cáo điều khiển va ch m vào đầu xe ôtô tải do bị h i Thắng điều khiển, bị cáo đánh lái sang phải theo hướng xe bị cáo đang điều khiển làm xe ôtô đầu kéo kéo theo sơ mi rơ moóc do bị cáo điều khiển đụng vào 02 căn nhà của bị h i Nguyễn Thị L và Trần Thanh P làm đổ 02 căn nhà trên và làm hư hỏng một số tài sản trong nhà; hư hỏng sơ mi rơ moóc của xe ôtô đầu kéo kéo do bị cáo điều khiển; xe ôtô tải biển kiểm soát 61C-396.84 do bị h i Nguyễn Văn T điều khiển bị hư hỏng phần đầu xe. Lời khai nhận của bị cáo t i phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo t i cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ, được thẩm tra t i phiên tòa. Tai n n do bị cáo gây ra đã gây thiệt h i về tài sản với tổng giá trị là 456.908.200 đồng. Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo theo tội danh, khung hình ph t và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Bị cáo T kháng cáo xin hưởng án treo, xét thấy: Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo theo Điều 65 Bộ luật Hình sự, tuy nhiên bị cáo đã từng bị xét xử về tội “Vi ph m quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, thế nhưng bị cáo vẫn chưa thấy được hậu quả của việc lơ là, bất cẩn, coi thường những quy tắc khi tham gia giao thông theo Luật Giao thông đường bộ đã quy định nên tiếp tục vi ph m. Mặc dù tai n n do bị cáo gây ra không gây thiệt h i đến tính m ng, sức khỏe của con người nhưng đã gây thiệt h i về tài sản của nhiều bị h i, làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự t i địa phương nơi xảy ra vụ án. Do vậy, cần phải xử bị cáo hình ph t tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi vi ph m và hậu quả mà bị cáo đã gây ra nhằm cải t o, giáo dục bị cáo trở thành người tốt, chấp hành nghiêm pháp luật khi tham gia giao thông và cũng nhằm răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.

[4] Ý kiến của đ i diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ nên được chấp nhận.

[5] Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời h n kháng cáo, kháng nghị.

[6] Án phí hình sự phúc thẩm: do yêu cầu kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ph m Hữu T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2022/HS-ST ngày 24 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương về hình ph t.

1.1. Tuyên bố bị cáo Ph m Hữu T ph m tội “Vi ph m quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

1.2. Áp dụng điểm d khoản 1 và khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

- Hình ph t chính: Xử ph t bị cáo Ph m Hữu T 01 (một) năm tù. Thời h n tù tính từ ngày bắt thi hành án.

- Hình ph t bổ sung: Cấm bị cáo hành nghề lái xe trong thời h n 01 (một) năm, kể từ ngày bị cáo chấp hành xong hình ph t tù.

2. Án phí hình sự phúc thẩm:

Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Ph m Hữu T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời h n kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ