- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Hoàng T bị truy tố về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 141/2021/HS-ST Ngày 28-10-2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Kim Cương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hà Trọng Tâm
Ông Võ Thanh Liêm
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Xuân Thùy Dương, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thành Đồng – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 147/2021/TLST-HS ngày 27/7/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 541/2021/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Hoàng T; sinh năm 1971, tại Cà Mau; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Số 134/34, đường T, khóm 2, phường 5, thành phố M, tỉnh Cà Mau; chổ ở hiện nay: Số 134/34, đường T, khóm 2, phường 5, thành phố M, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 1/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Tấn N (chết) và bà Lê Kim L (chết); vợ: Nguyễn Thị Thanh T; con: Lê Hoàng T, sinh năm 2003; tiền án: Không; tiền sự: 01 lần: Ngày 28/3/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 12 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (chưa chấp hành xong quyết định); nhân thân: Ngày 28/9/2004 bị Ủy ban nhân dân thành phố M ra quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 11/12/2004 bỏ trốn khỏi Trung tâm cai nghiện đến ngày 22/8/2006 bị bắt lại, ngày 08/3/2007 nhập viện điều trị bệnh tại Bệnh viện Cà Mau tiếp tục bỏ trốn đến ngày 05/3/2008 phạm tội trộm cắp tài sản. Ngày 16/7/2008 bị Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt 06 tháng tù về trội “Trộm cắp tài sản” Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/9/2008; bắt tạm giam từ ngày 28/5/2021 đến nay (bị cáo có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ ngày 14/01/2021, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Cà Mau kết hợp với Công an phường 7, thành phố Cà Mau bắt quả tang Lê Hoàng T đang tàng trữ trái phép chất ma túy tại khu vực khóm 7, phường 7, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Tang vật thu giữ gồm có:
- Thu giữ trong túi áo bên trái của Lê Hoàng T một bọc nilon bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy được niêm phong trong phong bì hình chữ nhật, ký hiệu M.15/2021; kiểm tra túi quần bên trái của Tuấn thu giữ một gói giấy bên trong có chứa hoa, lá, cành khô dạng thảo mộc nghi là ma túy được niêm phong trong phong bì hình chữ nhật, ký hiệu M.16/2021.
Theo bản kết luận giám định số: 55/GĐH/PC09 ngày 07 tháng 02 năm 2021 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau kết luận:
Chất bột mịn màu trắng bên trong bọc nilon được niêm phong kính trong phong bì hình chữ nhật, ký hiệu M.15/2021 thu giữ vào ngày 14/01/2021 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1161 gam, loại Heroin.
(Heroin là chất ma túy nằm trong danh mục I, STT 9, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ).
Tại kết luận giám định số 2460 ngày 13/5/2021 của phân viện khoa học hình sự tị thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Thảo mộc khô đựng trong một gói giấy được niêm phong ký hiệu M16/2021 không tìm thấy thành phần các chất ma túy, khối lượng 0,8647 gam.
Quá trình điều tra Lê Hoàng T khai nhận:
Vào khoảng 11 giờ ngày 14/01/2021 Tuấn từ nhà đi đến Hẻm M thuộc khóm 2, phường 9, thành phố M để mua ma túy về sử dụng. Khi đến hẻm Tuấn gặp một bé gái khoảng 13 tuổi nên T đưa cho bé gái này 70.000 đồng và nhờ mua ma túy. Khoảng 05 phút sau bé gái đó đưa cho T một bọc ma túy, loại heroin. T trả tiền công cho bé gái 50.000 đồng. T đem ma túy về nhà sử dụng một phần, phần còn lại để trong túi áo. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày T nhờ Du Bạc Tg chở T đến cầu K thuộc khóm 7, phường 7, thành phố M. Tại đây, Trung đậu xe dưới dạ cầu, T đi bộ gặp một bé trai hỏi mua gói cỏ giá 20.000 đồng, khi bé trai đưa gói cỏ cho T, rồi T trở lại chổ Tg đang đậu xe thì bị Công an bắt quả tang.
Về vật chứng trong vụ án: 01 (một) phong bì hoàn mẫu đã niêm phong sau khi trích giám định hoàn lại số: 55-GĐH- PC09 ngày 07/02/2021 hiện đang nhập kho vật chứng chờ xử lý.
Tại cáo trạng số: 145/CT-VKS ngày 26/7/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau truy tố bị cáo Lê Hoàng T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với Lê Hoàng T và đề nghị: Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Hoàng T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong sau khi trích giám định hoàn lại số 55-GĐH- PC09 ngày 07/02/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng.
Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các chứng cứ Cơ quan điều tra thu thập trong quá trình điều tra gồm: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; bản tự khai của bị cáo, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 17 giờ ngày 14 tháng 01 năm 2021 tại khu vực khóm 7, phường 7, thành phố M, Lê Hoàng T đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng là 0,1161 gam, loại Heroin, nhằm mục đích sử dụng thì bị bắt quả tang.
(Heroin là chất ma túy nằm trong danh mục I, STT 9, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ).
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Bởi lẽ: Ma túy là chất gây nghiện nên Nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt, sử dụng các chất ma túy. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức rõ việc tác hại của ma tuý ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ, đời sống của con người, gián tiếp gây ra các tệ nạn xã hội, làm suy thoái nòi giống và có thể dẫn đến các căn bệnh truyền nhiễm khác, gây mất an ninh trật tự trên địa bàn thành phố Cà Mau, nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Nên hành vi của bị cáo Lê Hoàng T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải đây là tình tiết để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Dù có giảm nhẹ, nhưng Hội đồng xét xử thấy rằng: Bản thân bị cáo T tuy không tiền án nhưng bị cáo có nhân thân xấu, có tiền sự và nhiều lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đi cai nghiện bắt buộc về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Đồng thời, bị cáo bỏ trốn nhiều lần nên chưa chấp hành xong quyết định, và không sữa đổi tiếp tục tái nghiện. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy rằng cần có mức án tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi bị cáo đã gây ra nhằm răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội, đồng thời nhằm cảnh báo, tuyên truyền với những ai không chấp hành quy định của pháp luật, gây tác hại đến sức khỏe con người, làm ảnh hưởng xấu đến xã hội, nhằm phòng ngừa hậu quả chung cho toàn xã hội.
Về vật chứng: 01 (một) phong bì niêm phong sau khi trích giám định hoàn lại số: 55-GĐH- PC09 ngày 07/02/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau đây là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với bé gái và bé trai bán ma túy theo T khai hiện chưa xác định được nhân thân địa chỉ, nên giao cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố Cà Mau tiếp tục xác minh làm rõ và có hướng xử lý sau.
Đối với Du Bạc Tg khi chở Tuấn đến khóm 7, phường 7, thành phố Cà Mau không biết Tuấn đi mua ma túy về sử dụng, do đó không đề cập xử lý đối với Tg.
Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử lý vật chứng là có căn cứ phù hợp với các quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
[8 Án phí hình sự sơ thẩm buộc bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Lê Hoàng T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 28/5/2021.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong sau khi trích giám định hoàn lại số: 55-GĐH- PC09 ngày 07/02/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cà Mau; (theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27/7/2021).
Án phí hình sự sơ thẩm buộc bị cáo Lê Hoàng T phải nộp 200.000 đồng (chưa nộp).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo;toafTOAF - VKSND Tp. Cà Mau; - VKS tỉnh Cà Mau; - CAND Tp. Cà Mau; - Chi cục THADS Tp. Cà Mau; - TAND tỉnh Cà Mau; - Lưu: Hồ sơ vụ án; văn thư. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA ( Đã ký) Phạm Kim Cƣơng |