- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "minh hùng"
- Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 468 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH L | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 141/2021/DS-PT Ngày: 29 - 12 - 2021 V/v tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản. |
NNHHÂÂNN DDAANNHH
NNƯƯỚỚCC CCỘỘNNGG HHÒÒAA XXÃÃ HHỘỘII CCHHỦỦ NNGGHHĨĨAA VVIIỆỆTT NNAAMM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH L
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Hữu Nhân
Các Thẩm phán:
Ông Huỳnh Châu Thạch
Ông Nguyễn Thành Tâm Châu Thạch
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Mai – Th
T a án, Tòa án nhân dân t nh L.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2021, tại Trụ sở T a án nhân dân t nh L xét xử phúc thẩm công hai vụ án thụ l số 84/2021/TLPT-DS ngày 21 tháng 6 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 31/2021/DS-ST ngày 04/5/2021 của T a án nhân dân huyện L bị háng cáo.
Theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử số 281/2021/QĐ-PT ngày 02/11/2021; Quyết định hoãn phiên t a số 144/2021/QĐ-HPT ngày 18/11/2021; Quyết định hoãn phiên t a số 342/2021/QĐ-PT ngày 26/11/2021 của T a án nhân dân t nh L giữa các đ ơng sự:
1- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm: 1970. Vắng mặt.
Bà L ơng Thị Lam Q, sinh năm: 1982. Vắng mặt.
Địa ch : Số 114/15/28 P, Ph ờng 9, quận G, Thành phố H.
Người đại diện theo ủy quyền của ông M, bà Q:
Ông L ơng Khải A, sinh năm: 1975. Có mặt.
Địa ch : Số 35 đ ờng số 18, Ph ờng 8, quận G, Thành phố H.
Văn bản ủy quyền ngày 03/10/2020.
2- Bị đơn: Ông Phan Ngọc H, sinh năm: 1972. Vắng mặt.
Địa ch : Số 11 tổ dân phố V, thị trấn Đ, huyện L, t nh L.
Người đại diện theo ủy quyền của ông H:
Ông Phan Ngọc T, sinh năm: 1964. Có mặt.
Địa ch : Số 159, tổ 2, tổ dân phố Đ, thị trấn Đ, huyện L, t nh L.
Văn bản ủy quyền ngày 29/10/2020.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông H:
1/. Luật s Nguyễn Ph ơng Đại N. Có mặt.
2/. Luật s Nguyễn Văn H. Có mặt.
Công ty Luật trách nhiệm hữu hạn Đại nghĩa thuộc Đoàn Luật s t nh L.
Địa ch : Số 11A T, Ph ờng 4, thành phố Đà Lạt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Công ty trách nhiệm hữu hạn đầu t và xuất nhập hẩu C.
Địa ch trụ sở: Số 490 N, Ph ờng 3, quận P, Thành phố H.
Người đại diện theo pháp luật của Công ty trách nhiệm hữu hạn đầu tư và xuất nhập khẩu C:
Ông Phan Ngọc H; chức vụ: Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn đầu t và xuất nhập hẩu C.
Địa ch : Số 11, tổ dân phố V, thị trấn Đ, huyện L, t nh L.
2/ Bà Trần Thị Thúy H2; chức vụ: Nhân viên ế toán Công ty trách nhiệm hữu hạn đầu t và xuất nhập hẩu C.
Địa ch : Thôn T, xã T, huyện L, t nh L.
Ng ời háng cáo: Bị đơn ông Phan Ngọc H.
NỘI D NG V ÁN
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông Nguyễn Văn M, bà Lương Thị Lam Q trình bày:
Ngày 11/9/2019, ông M, bà Q và ông Phan Ngọc H có hợp đồng vay số tiền 9.000.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận 1%/tháng, đã đ ợc công chứng theo quy định của pháp luật. Ông H thế chấp cho ông M, bà Q 01 giấy chứng nhận đăng doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, do Sở Kế hoạch và Đầu t Thành phố H cấp ngày 7/11/2013. Sau hi vay tiền về đầu t , inh doanh, ông H đã trả cho ông M, bà Q 4.000.000.000 đồng, đến ngày 16/01/2020 ông H có gửi th điện tử xác nhận c n nợ 5.500.000.000 đồng và hẹn đến ngày 10/3/2020 ông H sẽ trả 2.500.000.000 đồng cho ông M, bà Q nh ng ông H vẫn hông trả tiền theo cam ết.
Ngày 25/02/2020, ông H đến gặp ông M, bà Q viết giấy nhận nợ 5.500.000.000 đồng và hẹn trả 3.000.000.000 đồng vào ngày 10/3/2020 cho ông M, bà Q.
Ngày 06/3/2020, ông H trả số tiền 400.000.000 đồng; ngày 10/3/2020 chuyển trả 1.000.000.000 đồng; ngày 10/4/2020 chuyển trả 100.000.000 đồng; ngày 29/4/2020 chuyển trả 50.000.000 đồng; ngày 26/5/2020 chuyển trả 50.000.000 đồng và ngày 18/6/2020 chuyển trả 100.000.000 đồng. Tổng số tiền ông H đã trả là 1.700.000.000 đồng.
Tại đơn hởi iện ngày 20/8/2020, ông M, bà Q yêu cầu ông H phải trả số tiền 4.100.000.000 đồng, sau hi hai bên đối chiếu công nợ thì ông H đã trả đ ợc 1.700.000.000 đồng và c n nợ lại ông M, bà Q 3.800.000.000 đồng. Trong thời gian thụ l vụ án ông M, bà Q rút một phần yêu cầu hởi iện, yêu cầu ông Phan Ngọc H trả cho ông M bà Q số tiền gốc là 3.800.000.000 đồng và yêu cầu tiền lãi trong hạn 1%/tháng tính từ ngày 16/01/2020 đến ngày 10/3/2020 và lãi quá hạn 1,5%/tháng tính từ ngày 11/3/2020 cho đến hi trả nợ xong. Ông M, bà Q đồng trả lại cho ông H 01 giấy chứng nhận đăng doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, do Sở Kế hoạch và Đầu t Thành phố H cấp ngày 07/11/2013.
Bị đơn ông Phan Ngọc T trình bày:
Ông H thừa nhận, ngày 11/9/2019, ông H có vay số tiền là 9.000.000.000 đồng của ông M, bà Q là đúng. Quá trình ông H vay m ợn tiền của ông M, bà Q với thỏa thuận lãi suất là 1%/tháng theo giấy vay tiền các bên
ết, nh ng hi trả tiền ông M, bà Q tính lãi là 3.500 đồng/1.000.000 đồng/ngày nên ông H đã chuyển tiền lãi cho ông M, bà Q rất nhiều lần (trong đó có số tiền nhỏ và số tiền lớn cũng có, èm theo hóa đơn, chứng từ). Hiện nay, ông H ch c n nợ 1.074.926.000 đồng số tiền gốc ch a tính lãi.
Nay ông M, bà Q hởi iện yêu cầu ông H trả số tiền là 3.800.000.000 đồng và tiền lãi trong hạn 1%/tháng tính từ ngày 16/01/2020 đến ngày 10/3/2020 và lãi quá hạn 1,5%/tháng từ ngày 11/3/2020 cho đến hi trả hết số tiền trên thì bị đơn ông H hông đồng yêu cầu của nguyên đơn ông M, bà Q. Ông H ch đồng trả 1.088.000.000 đồng và 359.111.667 đồng tiền lãi.
Đề nghị T a án căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết vụ án; yêu cầu ông M, bà Q trả lại cho ông H 01 giấy chứng nhận đăng doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, do sở Kế hoạch và Đầu t Thành phố H cấp ngày 07/11/2013.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 31/2021/DS-ST ngày 04/5/2021 của T a án nhân dân huyện L đã xử:
Chấp nhận yêu cầu hởi iện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn M, bà L ơng Thị Lam Q về việc tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản với bị đơn ông Phan Ngọc H.
Buộc ông Phan Ngọc H phải trả cho ông Nguyễn Văn M, bà L ơng Thị Lam Q số tiền gốc là 3.800.000.000 đồng (ba tỷ tám trăm triệu đồng) và số tiền lãi là 591.533.300 đồng (năm trăm chín mươi mốt triệu năm trăm ba mươi ba nghìn ba trăm đồng). Tổng cộng, số tiền gốc và tiền lãi là 4.391.533.300 đồng (bốn tỷ ba trăm chín mươi mốt triệu năm trăm ba mươi ba nghìn ba trăm đồng), ông H tiếp tục chịu tiền lãi từ ngày tiếp theo (05/5/2021) cho đến hi trả hết số tiền gốc.
Ngoài ra, quyết định của bản án c n tuyên về án phí, quyền háng cáo và trách nhiệm thi hành án của các đ ơng sự.
Ngày 17/5/2021, bị đơn ông Phan Ngọc H có đơn háng cáo yêu cầu T a án cấp phúc thẩm sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 31/2021/DS-ST ngày 04/5/2021 của T a án nhân dân huyện L theo h ớng bác toàn bộ yêu cầu hởi iện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn M, bà L ơng Thị Lam Q.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn ông H (do ông Thành là ng ời đại diện theo ủy quyền) vẫn giữ nguyên yêu cầu háng cáo và đề nghị chấp nhận háng cáo của ông Thành.
Ng ời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Thành là luật s Nghĩa và luật s Hoằng đề nghị đề nghị chấp nhận háng cáo của ông Thành.
Đại diện Viện iểm sát nhân dân t nh L tham gia phiên t a phát biểu iến về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của ng ời tham gia tố tụng, cụ thể: Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên t a Hội đồng xét xử và các đ ơng sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên t a dân sự phúc thẩm; đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ hoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận háng cáo của bị đơn ông H; sửa bản án dân sự sơ thẩm theo h ớng tuyên bổ sung nội dung đình ch một phần yêu cầu hởi iện của nguyên đơn ông M, bà Q đối với số tiền 300.000.000 đồng do nguyên đơn ông M, bà Q rút một phần yêu cầu hởi iện.
NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Xuất phát từ việc nguyên đơn ông M, bà Q cho rằng ngày 11/9/2019, ông H có hợp đồng vay số tiền 9.000.000.000 đồng của ông M, bà Q, hợp đồng vay tài sản đ ợc công chứng tại Ph ng công chứng số 6 Thành phố H. Trong quá trình vay thì ông H đã trả cho ông M, bà Q đ ợc số tiền 4.000.000.000 đồng. Đến ngày 16/01/2020, ông H có gửi th điện tử xác nhận c n nợ ông M, bà Q số tiền 5.500.000.000 đồng. Sau hi hai bên đối chiếu xác nhận nợ thì từ ngày 10/3/2020 đến ngày 18/6/2020 ông H trả đ ợc thêm số tiền 1.700.000.000 đồng, c n nợ lại 3.800.000.000 đồng. Do ông H hông trả cho ông M, bà Q số tiền c n lại theo thỏa thuận nên ông M, bà Q hởi iện yêu cầu ông H phải trả số tiền trên và lãi suất theo thỏa thuận.
Còn bị đơn ông H thì hông đồng với yêu cầu hởi iện của ông M, bà Q và cho rằng hiện nay ông H ch c n nợ số tiền 1.088.000.000 đồng tiền gốc và 359.111.667 đồng tiền lãi nên các bên phát sinh tranh chấp. Do đó, T a án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện L.
[2] Xét háng cáo của bị đơn ông Phan Ngọc H:
[2.1] Năm 2019, ông H có vay tiền nhiều lần của ông M, bà Q. Đến ngày 11/9/2019, tại Ph ng công chứng số 6, Thành phố H ông H và ông M, bà Q lập hợp đồng vay tài sản thể hiện ông H có vay của ông M, bà Q số tiền 9.000.000.000 đồng và thỏa thuận lãi suất 1%/tháng là có trên thực tế và đ ợc các bên đ ơng sự thừa nhận và phù hợp với nội dung hợp đồng vay tiền đã đ ợc công chứng vào ngày 11/9/2020 (bút lục số 07-10).
[2.2] Trong quá trình vay, ngày 16/01/2020 ông M, bà Q và ông H chốt lại số nợ, theo đó ông H c n nợ ông M, bà Q số tiền 5.500.000.000 đồng, hẹn trả cuối cùng đủ cả gốc và lãi theo thỏa thuận vào ngày 10/3/2020, có chữ và chữ viết xác nhận nợ của ông H (bút lục số 47). Do ch a có tiền trả nên ngày 25/2/2020, ông H viết giấy hẹn trả cho ông M, bà Q số tiền 3.000.000.000 đồng vào ngày 10/3/2020, có chữ và chữ viết của ông H (bút lục số 48). Nội dung này cũng đ ợc ông H thừa nhận là có vay tiền của ông M, bà Q theo nh hợp đồng lập ngày 11/9/2020 và có đơn xin gia hạn nợ gốc và giấy xác nhận nh các tài liệu mà nguyên đơn ông M, bà Hùng đã xuất trình (bút lục số 229).
[2.3] Ông H cho rằng ông bị ép buộc vào giấy gia hạn nợ gốc và giấy xác nhận nh ng ông H lại hông cung cấp đ ợc tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho lời trình bày của mình nên hông có căn cứ để xác định ông H bị ép buộc vào giấy gia hạn nợ gốc và giấy xác nhận nêu trên.
[3] Sau hi viết giấy hẹn từ ngày 06/3/2020 đến ngày 18/6/2020 ông H trả cho ông M, bà Q tổng số tiền là 1.700.000.000 đồng, (cụ thể: Ngày 06/3/2020, trả 400.000.000 đồng; ngày 10/3/2020 trả 1.000.000.000 đồng; ngày 10/4/2020 trả 100.000.000 đồng; ngày 29/4/2020 trả 50.000.000 đồng; ngày 26/5/2020 trả 50.000.000 đồng và ngày 18/6/2020 trả 100.000.000 đồng) số tiền c n nợ lại 3.800.000.000 đồng.
[4] Trong quá trình giải quyết vụ án cũng nh tại phiên t a hôm nay, ng ời đại diện theo ủy quyền của ông H là ông Thành thừa nhận ông H có vay tiền của ông M, bà Q. Tại đơn xin gia hạn nợ gốc ngày 16/01/2020 và giấy xác nhận cam ết trả tiền ngày 25/02/2020 thì ông H nợ ông M, bà Q số tiền 5.500.000.000 đồng, ông Thành cũng thừa nhận trong đơn xin gia hạn nợ gốc và giấy xác nhận cam ết trả tiền nêu trên thì chữ và chữ viết là của ông H.
Ông Thành cho rằng sau hi viết đơn gia hạn trả nợ gốc, ông H đã trả tiền nhiều lần cho ông M, bà Q, trả lần cuối cùng vào ngày 18/6/2020, nay ông H ch c n nợ ông M, bà Q 1.088.000.000 đồng tiền gốc và 359.111.667 đồng tiền lãi nên hông đồng đối với yêu cầu hởi iện của ông M, bà Q.
[5] Tại đơn xin gia hạn nợ gốc ngày 16/01/2020 (bút lục số 47) và giấy cam ết trả nợ ngày 25/02/2020 (bút lục số 48), ông H xác nhận c n nợ ông M, bà Q số tiền 5.500.000.000 đồng; đến ngày 25/2/2020, ông H viết giấy cam ết trả 3.000.000.000 đồng vào ngày 10/3/2020 cho ông M, bà Q. Sau hi viết giấy cam ết ông H đã trả cho ông M, bà Q tổng số tiền là 1.700.000.000 đồng (Cụ thể các lần trả: Ngày 06/3/2020 trả 400.000.000 đồng; ngày 10/3/2020 trả 1.000.000.000 đồng; ngày 10/4/2020 trả 100.000.000 đồng; ngày 29/4/2020 trả 50.000.000 đồng; ngày 26/5/2020 trả 50.000.000 đồng và ngày 18/6/2020 trả 100.000.000 đồng) là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà đại diện theo ủy quyền của ông H là ông Thành xuất trình trong quá trình giải quyết vụ án; ông H cũng nh ông Thành cũng hông có chứng cứ để chứng minh cho lời trình bày của mình trong hi đó ông M, bà Q lại hông thừa nhận lời trình bày của ông H, ông Thành.
Do đó, T a án cấp sơ thẩm xác định ông H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên chấp nhận yêu cầu hởi iện của ông M, bà Q để buộc Hùng phải trả số tiền gốc 3.800.000.000 đồng là có căn cứ.
[6] Đối với nội dung ông M, bà Q yêu cầu ông H phải trả tiền lãi trong hạn 1%/tháng, thời gian tính từ ngày 16/1/2020 đến ngày 10/3/2020 và tiền lãi quá hạn 1.5%/tháng từ ngày 11/3/2020 đến hi vụ án đ ợc giải quyết xong thì thấy rằng:
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông H cho rằng trong quá trình vay m ợn thì ông H đã trả tiền gốc và lãi cho ông M, bà Q với mức lãi suất 3.500 đồng/1.000.000 đồng/ngày là cao hơn mức lãi suất thỏa thuận ghi trong hợp đồng vay tiền nh ng ông H lại hông xuất trình đ ợc tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho nội dung ông M, bà Q tính lãi cao với mức lãi suất 3.500 đồng/1.000.000 đồng/ngày nên hông có căn cứ để xác định mức lãi suất ông H đã trả cho ông M, bà Q là 3.500 đồng/1.000.000 đồng/ngày.
Trong hi đó, ông Phan Ngọc T là ng ời đại diện theo ủy quyền của ông H thừa nhận hai bên có thỏa thuận lãi suất là 1%/tháng và đồng trả tiền lãi theo quy định của pháp luật nên cần xác định mức lãi suất mà các bên thỏa thuận là 1%/tháng là phù hợp với hợp đồng vay tiền ngày 11/9/2019.
[7] Trong quá trình giải quyết vụ án, ông M, bà Q yêu cầu ông H phải trả cho ông M, bà Quyền số tiền nợ lãi đối với số tiền nợ gốc 3.800.000.000 đồng tính từ ngày 16/01/2020 đến ngày 10/3/2020 với mức lãi suất là 1%/tháng, tiền lãi từ ngày 11/3/2020 đến hi trả nợ xong với mức lãi suất là 1,5%/tháng. Tuy nhiên, tại phiên t a sơ thẩm, ng ời đại diện theo ủy quyền của ông M, bà Q là ông L ơng Khải A ch yêu cầu ông H trả tiền lãi 1%/tháng, thời gian tính lãi từ ngày 16/01/2020 cho đến ngày xét xử sơ thầm (04/5/2021).
Đối chiếu với hợp đồng vay tiền ngày 11/9/2019 đã đ ợc các bên giao ết và đ ợc Văn ph ng công chứng số 6, Thành phố H thực hiện việc chứng thực thì mức lãi suất mà các bên thỏa thuận là 1%/tháng, t ơng ứng với 12%/năm. Do đó, T a án cấp sơ thẩm căn cứ Điều 466, 468 Bộ luật Dân sự để tính lãi suất 1%/tháng trên số tiền nợ gốc 3.800.000.000 đồng là có căn cứ và đúng pháp luật.
[8] Đối với thời gian tính lãi thì thấy rằng, T a án cấp sơ thẩm tính lãi từ ngày 16/01/2020 là ch a phù hợp. Bởi lẽ, ông H xác nhận nợ ông M, bà Q vào ngày 16/01/2020 nh ng sau đó các ngày 06/3/2020, 10/3/2020, 10/4/2020, 29/4/2020, 26/5/2020, 18/6/2020 ông H đã trả cho ông M, bà Q 1.700.000.000 đồng. Lẽ ra, T a án cấp sơ thẩm phải tính lãi suất t ơng ứng với số tiền nợ gốc trên từng thời điểm mà ông H trả cho ông M, bà Q nh ng T a án cấp sơ thẩm ch tuyên buộc ông H trả số tiền lãi 591.533.300 đồng là thiếu sót nh ng do nguyên đơn ông M, bà Q hông háng cáo nên hông có căn cứ để xem xét. Do đó, số tiền lãi đ ợc tính nh sau:
Tiền gốc 3.800.000.000 đồng x 1% /tháng x 15 tháng = 570.000.000 đồng.
Tiền gốc 3.800.000.000 đồng x 1%/tháng x 17 ngày : 30 ngày = 21.533.333 đồng. Tổng cộng gốc và tiền lãi theo quy định của pháp luật đối với hoản vay trên là: 3.800.000.000 đồng + 570.000.000 đồng + 21.533.300 đồng = 4.391.533.300 đồng (đã làm tròn số). Nh vậy, tổng số tiền ông H phải trả cho ông M, bà Q, là 4.391.533.300 đồng (trong đó tiền gốc là 3.800.000.000 đồng và 591.533.300 đồng tiền lãi).
[9] Đối với các chứng từ là Ủy nhiệm chi liên quan đến Công ty trách nhiệm hữu hạn đầu t xuất nhập hẩu C do ông H là ng ời đại diện theo pháp luật thì thấy rằng: Theo các ủy nhiệm chi hách hàng trả tiền cho hách hàng thụ h ởng là bà L ơng Thị Lam Q từ ngày 23/9/2019 đến ngày 25/10/2019 (bút lục số 109-129). Số tiền Công ty trách nhiệm hữu hạn đầu t xuất nhập hẩu C đã chuyển trả cho ông M, bà Q vào năm 2019 là tr ớc thời điểm hai bên chốt nợ 5.500.000.000 đồng vào ngày 16/01/2020.
Nh vậy, Công ty trách nhiệm hữu hạn đầu t xuất nhập hẩu C không có liên quan đến số tiền Minh, bà Q hởi iện ông H nên T a án cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết là phù hợp, trong tr ờng hợp Công ty trách nhiệm hữu hạn đầu t xuất nhập hẩu C có tranh chấp với ông M, bà Q liên quan đến các ủy nhiệm chi do Công ty trách nhiệm hữu hạn đầu t xuất nhập hẩu C xuất trình thì Công ty trách nhiệm hữu hạn đầu t xuất nhập hẩu C có quyền hởi iện để đ ợc xem xét giải quyết bằng vụ án hác hi có tranh chấp.
[10] Đối với ng ời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Thúy H2 (nhân viên ế toán Công ty trách nhiệm hữu hạn đầu t xuất nhập hẩu C) là ng ời trực tiếp chuyển tiền trả vào số tài hoản của bà L ơng Thị Lam Q từ ngày 23/9/2019 đến ngày 08/01/2020 (bút lục số 109-129). Bà Hằng chuyển tiền trả tr ớc thời điểm hai bên chốt số nợ vào ngày 16/01/2020.
Nh vậy, bà Hằng cũng hông có liên quan đến số tiền ông M, bà Q hởi iện ông H nên T a án cấp sơ thẩm hông xem xét giải quyết là phù hợp, trong tr ờng hợp bà Hằng có tranh chấp với ông M, bà Q liên quan đến việc bà Hằng chuyển tiền cho bà Q thì bà Hằng có quyền hởi iện để đ ợc xem xét giải quyết bằng vụ án hác hi có tranh chấp.
[11] Do nguyên đơn ông M hởi iện yêu cầu ông H trả 4.100.000.000đ nh ng trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn rút một phần yêu cầu hởi iện, ch yêu cầu ông H trả 3.800.000.000đ. T a án cấp sơ thẩm hông tuyên đình ch một phần yêu cầu hởi iện của ông M, bà Q đối với số tiền 300.000.000 đồng mà ông M, bà Q đã rút một phần yêu cầu hởi iện là thiếu sót; do đó, T a án cấp phúc thẩm cần đình ch đối với số tiền 300.000.000đồng là có căn cứ.
[12] Với những phân tích nêu trên, T a án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án về việc chấp nhận yêu cầu hởi iện của nguyên đơn ông M, bà Q để buộc bị đơn ông H phải trả cho ông M, bà Q số tiền gốc và tiền lãi là 4.391.533.300 đồng là có căn cứ và đúng pháp luật. Do đó, hông có cơ sở để chấp nhận háng cáo của ông H.
[13] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông H phải chịu theo quy định của pháp luật.
[14] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do háng cáo của ông Phan Ngọc H không đ ợc chấp nhận nên ông H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
Q YẾT Đ NH
Căn cứ hoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Th ờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí t a án.
Không chấp nhận háng cáo của bị đơn ông Phan Ngọc H.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 31/2021/DS-ST ngày 04/5/2021 của T a án nhân dân huyện L về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” giữa nguyên đơn ông Nguyễn Văn M, bà L ơng Thị Lam Q với bị đơn ông Phan Ngọc H; ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty trách nhiệm hữu hạn đầu t và xuất nhập hẩu C, bà Trần Thị Thúy H2. Cụ thể nh sau:
1. Đình ch một phần yêu cầu hởi iện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn M, bà L ơng Thị Lam Q đối với số tiền 300.000.000 đồng.
2. Chấp nhận yêu cầu hởi iện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn M, bà L ơng Thị Lam Q về việc tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản với bị đơn ông Phan Ngọc H.
Buộc ông Phan Ngọc H phải trả cho ông Nguyễn Văn M, bà L ơng Thị Lam Q số tiền gốc là 3.800.000.000 đồng (ba tỷ tám trăm triệu đồng) và số tiền lãi là 591.533.300 đồng (năm trăm chín mươi mốt triệu năm trăm ba mươi ba nghìn ba trăm đồng). Tổng cộng, số tiền gốc và tiền lãi là 4.391.533.300 đồng (bốn tỷ ba trăm chín mươi mốt triệu năm trăm ba mươi ba nghìn ba trăm đồng), ông H tiếp tục chịu tiền lãi từ ngày tiếp theo (05/5/2021) cho đến hi trả hết số tiền gốc.
3. Về nghĩa vụ thi hành án:
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các tr ờng hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc ể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ng ời đ ợc thi hành án (đối với các hoản tiền phải trả cho ng ời đ ợc thi hành án) cho đến hi thi hành án xong, bên phải thi hành án c n phải chịu hoản tiền lãi của số tiền c n phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Phan Ngọc H phải chịu 112.391.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn M, bà L ơng Thị Lam Q số tiền 56.294.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà ông M, bà Q đã tạm nộp theo biên lai thu số 0014815 ngày 20/10/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện L.
5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Buộc ông Phan Ngọc H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nh ng đ ợc trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm mà ông H đã tạm nộp theo biên lai thu số 0015346 ngày 07/6/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện L. Ông H đã nộp đủ tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Tr ờng hợp bản án đ ợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì ng ời đ ợc thi hành án dân sự, ng ời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị c ng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án đ ợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận - VKSND t nh L; - Phòng KTNV&THA; - TAND huyện L (02); - Chi cục THADS huyện L; - Các đ ơng sự (08); - Văn ph ng; - L u hồ sơ vụ án, án văn (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Bùi Hữu Nhân |