- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Phạm Ngọc V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 141/2019/HS-ST Ngày: 10 - 9 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG - TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phùng Thắng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Cư và ông Lê Quang Khỏe.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hải - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thu Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2019, tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 128/2019/TLST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2019/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:
PHẠM NGỌC V - Sinh năm 1991 tại Hải Dương.
ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn TS, xã QH, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Xuân V và bà Phạm Thị H; Bị cáo chưa có vợ con; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án; tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 41/2013/HS-ST ngày 31/12/2013 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương xử phạt 07 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ra trại ngày 22/5/2014 và nộp án phí ngày 27/3/2014; Bản án số 16/2015/HS-ST ngày 07/7/2015 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang xử phạt 10 tháng tù về Tội Trộm cắp tài sản. Ra trại ngày 28/01/2016 và nộp án phí ngày 13/10/2015. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/6/2019; chuyển tạm giam từ ngày 07/6/2019 tại Trại tạm giam Kim Chi - Công an tỉnh Hải Dương đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1973 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Khu 4, phường NC, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
+ Chị Mai Phương Th, sinh năm 1990 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Khu 10, phường NC, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tại bản cáo trạng số 131/CT-VKSTPHD ngày 13/8/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương truy tố Phạm Ngọc V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự với căn cứ: Hồi 10 giờ 55 phút ngày 06/6/2019, tại trước cửa nhà nghỉ ĐS - xóm PB, phường NC, thành phố Hải Dương, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố Hải Dương bắt quả tang Phạm Ngọc V đang cất giấu trái phép 02 gói giấy kẻ ô ly, bên ngoài mỗi gói được bọc bằng nilon màu đen, kích thước (0,5 x 1) cm/gói, bên trong các gói đều chứa chất bột dạng cục màu trắng. V khai nhận là Heroin, cất giấu để sử dụng. Quá trình bắt giữ có sự chứng kiến của anh Nguyễn Văn M và chị Mai Phương Th.
Tại cơ quan điều tra Phạm Ngọc V khai nhận: Do bản thân là người sử dụng chất ma túy (loại Heroin) nên khoảng 10 giờ 30 phút ngày 06/6/2019, V đi bộ đến xóm PB, phường NC, thành phố Hải Dương mua được 02 gói Heroin với số tiền 200.000đ của một người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) rồi cầm trong lòng bàn tay phải tìm nơi sử dụng. Khoảng 10 giờ 55 phút cùng ngày, khi V đi đến trước cửa nhà nghỉ ĐS thuộc xóm PB, phường NC, thành phố Hải Dương thì bị Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố Hải Dương kiểm tra. V thả hai gói Heroin vừa mua được xuống dưới đất. Cơ quan công an thu giữ ngay tại vị trí V đang đứng 02 gói giấy kẻ ô ly, bên ngoài mỗi gói được bọc bằng nilon màu đen kích thước (0,5 x 1) cm/gói, bên trong các gói đều chứa chất bột loại cục màu trắng.
Tại kết luận giám định số 232/KLGĐ-PC09 ngày 08/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng niêm phong trong phong bì thư ghi thu của Phạm Ngọc V gửi đến giám định có khối lượng là 0,134g là loại Heroin.
Heroin nằm trong danh mục I – STT: 09, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Ngọc V thừa nhận đã thực hiện hành vi cất giấu trái phép 01 gói Heroin để sử dụng cho bản thân như cáo trạng đã nêu. Bị cáo nhất trí với kết luận giám định, thể hiện thái độ ăn năn hối cải và công nhận Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
Tranh luận tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa trình bày quan điểm giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố. Trên cơ sở phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu quả, điều kiện, nguyên nhân phạm tội, nhân thân của bị cáo. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc V từ 14 đến 16 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 06/6/2019.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy 0,092g Heroin (kèm vỏ bao gói) hoàn lại sau giám định được đựng trong phong bì số 232/KLGĐ-PC09 có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về chứng cứ xác định bị cáo Phạm Ngọc V có tội và áp dụng pháp luật:
Bị cáo Phạm Ngọc V thừa nhận: Khoảng 10 giờ 55 phút, ngày 06/6/2019 tại trước cửa nhà nghỉ ĐS thuộc xóm PB, phường NC, thành phố Hải Dương, Phạm Ngọc V có hành vi cất giấu trái phép 0,134 gam Heroin để sử dụng thì bị Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố Hải Dương bắt quả tang thu giữ vật chứng. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, kết luận giám định, biên bản niêm phong, biên bản mở niêm phong vật chứng bị tạm giữ. Các tài liệu, chứng cứ nêu trên phù hợp với các chứng cứ khác như: Bản tự khai của bị cáo, biên bản lấy lời khai bị cáo, biên bản hỏi cung bị cáo, biên bản lấy lời khai của những người làm chứng đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Từ những chứng cứ nêu trên, có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; nhận thức rõ ma túy là chất bị Nhà nước cấm lưu hành nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy là loại Heroin có khối lượng là 0,134g nên bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố và bị đưa ra xét xử về tội danh “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người thực hiện hành vi phạm tội và đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, nhận thức được tác hại của việc tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy nhưng vẫn thực hiện thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng 02 lần bị kết án về hành vi trộm cắp tài sản (đã được xóa án tích) do vậy, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo tác dụng giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người không có tài sản và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về biện pháp tư pháp: Đối với vật chứng cơ quan giám định hoàn lại sau giám định, xét thấy Heroin là chất Nhà nước cấm lưu hành, vỏ bao gói không còn giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự .
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố; điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về các vấn đề khác: Không làm rõ người bán ma túy trái phép cho V nên không có căn cứ xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc V 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 06/6/2019.
3. Về biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy 0,092g Heroin hoàn lại sau giám định (kèm vỏ bao gói) được đựng trong phong bì số 232/KLGĐ-PC09 có dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương.
(Vật chứng trên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/8/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hải Dương và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hải Dương).
4. Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Ngọc V phải chịu 200.000đ án phí sơ thẩm hình sự.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Viện Kiểm sát nhân dân TP. Hải Dương; - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương; - Cơ quan CSĐT công an TP Hải Dương; - Cơ quan THAHS công an TP. Hải Dương; - Trại tạm giam Kim Chi – Công an tỉnh Hải Dương; - Chi cục THADS thành phố Hải Dương; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phùng Thắng |