vanban.org

Bản án 141/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 28/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

p d ng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lò Văn T ph m tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Xử ph t: Lò Văn T 18 (mười tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình ph t tù tính từ ngày t m giữ, t m giam ngày (27/8/2019). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lo Van T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? p d ng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 141/2019/HS-ST
Ngày: 28-11-2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Quàng Văn Tiện; ông Trần Thành Vân.

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Nhung, thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên tòa: Ông Lầu Bá Khải – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2019, t i Tr s Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số: 138/2019/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2019, theo Quyết định đưa v án ra xét xử số 135/ 2019/QĐXXST-HS ngày 18/11/2019, đối với bị cáo sau đây:

Họ và tên: Lò Văn T, sinh năm 1987; nơi ĐKHKTT: Bản C, xã C, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; Chức v , đảng, đoàn thể: Không; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 12/12; con ông: Lò Văn T1; con bà: Quàng Thị G; vợ: Lường Thị V; có 02 con, lớn sinh năm 2012 nhỏ sinh 2013; tiền án; tiền sự: Không; bị bắt t m giữ, t m giam từ ngày 27/8/2019 cho đến nay. Có mặt t i phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Lường Thị V, sinh năm 1990 (vợ bị cáo). Trú t i bản C, xã C, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên toà, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Hồi 19 giờ 30 phút, ngày 26 tháng 8 năm 2019, tổ công tác Công an huyện Sông Mã và Công an xã C, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La làm nhiệm v t i bản T, xã C, huyện Sông Mã đã phát hiện bắt quả tang Lò Văn T có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: Thu trong lòng bàn tay trái của Lò Văn T 01 (một) gói nilon màu xanh, bên trong có chứa 01 (một) c c chất bột liên kết màu trắng (T khai nhận là Heroine). Ngoài ra còn t m giữ của T 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số lo i Wave α màu đỏ, số máy: JA39E-0G95583, số khung: RLHJA 3903HY715437, biển kiểm soát: 26B2 - 339.58 đã qua sử d ng.

Ngày 27/8/2019 t i Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành lập Hội đồng bóc m niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng, trích mẫu giám định và niêm phong l i vật chứng. Kết quả cân tịnh:

Cân tách bì toàn bộ c c chất bột liên kết màu trắng có khối lượng 0,55 (không phẩy năm mươi năm) gam. Đã lấy hết làm mẫu giám định, ký hiệu T1. .

T i bản Kết luận giám định số 1438 ngày 30/8/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu T1 là ma túy; Lo i Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là: 0,55 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là: 0,55 gam; lo i Heroine.

Quá trình điều tra xác định được như sau:

Do nghiện ma túy, khoảng 17 giờ 30 phút ngày 26/8/2019, Lò Văn T mang theo số tiền 250.000VNĐ (Hai trăm năm mươi ngàn đồng chẵn) là tiền do T lao động mà có rồi một mình điều khiển chiếc xe mô tô của gia đình đi từ nhà đến bản Co T, xã C, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La với m c đích tìm mua ma túy để sử d ng. Khi đi đến bản C, T đi vào nhà một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên, tuổi hỏi mua được 01 (một) gói Heroine được gói bằng giấy nilon màu xanh. Sau khi mua được ma túy T lấy ra một ít rồi cùng người đàn ông dân tộc Mông sử d ng ngay t i nhà người Mông này bằng hình thức hít trực tiếp vào cơ thể qua đường hô hấp. Sử d ng ma túy xong, T gói l i số ma túy còn l i cầm trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô về nhà. Trên đường về đến khu vực bản T, xã C, huyện Sông Mã thì gặp tổ công tác Công an huyện Sông Mã và Công an xã Chiềng Cang đang làm nhiệm kiểm tra, phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng nêu trên.

Cáo tr ng số: 139/CT-VKSSM ngày 13 tháng 11 năm 2019, của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố Lò Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

T i phiên toà, Kiểm Sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Ph t bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù. Xét hoàn cảnh khó khăn nên miễn hình ph t bổ sung cho bị cáo; vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo bị bắt quả tang khi đang Tàng trữ trái phép chất ma túy, vật chứng thu giữ được theo kết luận giám định là chất ma tuý, khối lượng 0,55gam Heroine. Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ s để kết luận: Lò Văn T ph m tội Tàng tr trái ph p ch t ma tu , tội ph m và hình ph t được quy định t i điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, kh i tố của cơ quan Điều tra và Truy tố tội ph m của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng pháp luật.

T i phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình; lời khai nhận hoàn toàn thống nhất với lời khai t i cơ quan Điều tra; phù hợp với nội dung, tội danh bản Cáo tr ng; lời khai nhận của bị cáo c ng phù hợp với biên bản ph m tội qủa tang, lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ v án. T i phiên tòa không phát sinh tình tiết mới, bị cáo nhất trí và không có tranh luận với Kiểm sát viên, ý kiến cuối cùng xin được giảm nh hình ph t.

Hành vi ph m tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội; xâm ph m sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy; gây mất trật tự trị an t i địa phương, gây bức xúc trong nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Vì vậy, cần phải xử lý bị cáo nghiêm khắc, nhằm răn đe, cải t o, giáo d c và phòng ngừa chung.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; t i cơ quan Điều tra và t i phiên toà thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nh quy định t i điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp d ng cho bị cáo được hư ng. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về số ma tuý thu giữ được trong v án: Bị cáo khai mua được của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết, nên cơ quan Điều tra không có căn cứ để điều tra m rộng v án là phù hợp, cần chấp nhận.

Vật chứng v án còn l i gồm:

- 01 (một) phong bì thư niêm phong màu trắng do Bưu điện Việt Nam phát hành, 01 mảnh giấy nilon màu trắng, 01 mảnh giấy nilon màu xanh, 01 phong bì thư niêm phong ban đầu đã bóc m và 01 (một) phong bì thư niêm phong “Hoàn l i mẫu giám định v Lò Văn T, chất bột màu trắng khối lượng 0,31 gam” đều là vật cấm lưu hành và không còn giá trị sử d ng, cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với chiếc xe mô tô và 01 (một) chìa khóa xe t m giữ của bị cáo, xác định được không liên quan đến việc ph m tội nên cần trả l i.

Xét thấy, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có khả năng thi hành nên miễn hình ph t bổ sung (là phạt tiền) cho bị cáo.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định chung.

Về trình bày luận tội và đề xuất mức án của Kiểm sát viên t i phiên toà là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. p d ng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lò Văn T ph m tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Xử ph t: Lò Văn T 18 (mười tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình ph t tù tính từ ngày t m giữ, t m giam ngày (27/8/2019).

2. Vật chứng: p d ng điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự.

- Tịch thu để tiêu hu : 01 (một) phong bì thư niêm phong màu trắng do Bưu điện Việt Nam phát hành. Gồm: 01 mảnh giấy nilon màu trắng, 01 mảnh giấy nilon màu xanh, 01 phong bì thư niêm phong ban đầu đã bóc m và 01 (một) phong bì thư niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La. Mặt trước phong bì có ghi: “Hoàn l i mẫu giám định v Lò Văn T, chất bột màu trắng khối lượng 0,31 gam Heroine”

- Trả l i cho chị Lường Thị V: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số lo i Wave α màu đỏ, số máy: JA39E-0G95583, số khung: RLHJA 3903HY715437, biển kiểm soát: 26B2 - 339.58 đã qua sử d ng và 01 (một) chìa khóa.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/11/2019 gi a Chi cục thi hành án dân sự và Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La).

3. Về án phí: p d ng Điều 135 Bộ luật tố t ng hình sự, các Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa v liên quan có quyền kháng cáo trong h n 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ