- Tranh chấp gì? án hình sự — "Moong Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Moong Văn T: 12 (mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 14/8/2019.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KS TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 141/2019/HS-ST Ngày: 19-11-2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KS, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Hoàng Hào
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Moong Văn Bình
Ông Vũ Bá Ngọc
- Thư ký phiên tòa: Ông Già Bá Lầu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 134/2019/TLST-HS, ngày 29 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 151/2019/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2019 đối với:
Bị cáo: Moong Văn T. Tên gọi khác: Không. Sinh năm 1996 tại xã BL, huyện KS, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Bản Huồi Cáng 1, xã BL, huyện KS, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Khơ mú; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Moong Phò Thắng (đã chết) và bà Moong Mẹ Thắng; Vợ, con: Chưa có; tiền sự, tiền án: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/8/2019 cho đến nay. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Moong Văn T: Ông Lê Công Thiết. Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.
Người chứng kiến: Anh Cụt Văn Són, sinh năm 1994. Nơi cư trú: Bản Huồi Cáng 1, xã BL, huyện KS, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khảng 17 giờ 30 phút ngày 13/8/2019, Moong Văn T đi bộ một mình từ nhà đến bản Kèo Phà Tú, xã BL, huyện KS. Khi đến nơi, Then gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 03 gói heroine với giá 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn). Mua xong, Then cất dấu trong người rồi đi về nhà. Đến khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 14/8/2019, khi Then đang ở khu vực bản Huồi Cáng 1, xã BL, huyện KS thì bị Công an huyện KS phát hiện bắt quả tang thu giữ tang vật là số heroine trên.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vào ngày 15/8/2019 đã xác định: Chất màu trắng thu giữ của Then có khối lượng 0,1gam (Không phẩy một). Hội đồng đã trích 0,05 gam để gửi đi giám định.
Tại bản kết luận giám định số 1185/KL-PC09(MT) ngày 21/8/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất màu trắng thu giữ của Moong Văn T gửi tới giám định là ma túy (Heroine).
Cáo trạng số 141/CT-VKS-HS ngày 27/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện KS, tỉnh Nghệ An truy tố Moong Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung cáo trạng, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Moong Văn T mức án từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo; Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì bưu điện viền xanh đỏ, được dán kín, trên mép dán có đầy đủ chữ ký của hội đồng tham gia niêm phong và chữ ký của bị cáo Moong Văn T, bên trong chứa số ma túy (Heroine) có khối lượng còn lại là 0,05 gam (không phẩy không năm) cùng vỏ giấy niêm phong ban đầu; Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Moong Văn T đồng ý với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không có tranh luận gì. Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo Moong Văn T đồng ý như quan điểm, đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện KS. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ, điều kiện sinh sống, động cơ, mục đích phạm tội, nhân thân, khối lượng ma túy của bị cáo để xử bị cáo mức án thấp nhất như mức đề nghị của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện KS, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện KS, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt người chứng kiến, tuy nhiên không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Moong Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 14/8/2019, tại khu vực bản Huồi Cáng 1, xã BL, huyện KS, tỉnh Nghệ An, Moong Văn T là người có đầy đủ năng lực hành vi để nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có ma túy để sử dụng nên đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (Heroine) với khối lượng là 0,1 gam thì bị Công an huyện KS phát hiện và bắt quả tang. Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Vụ án có tính chất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định về quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Không những làm mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, mà còn ảnh hưởng xấu đến đời sống kinh tế xã hội, sức khỏe, làm gia tăng tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Bị cáo tuổi đời còn trẻ, không chịu khó lao động mà lại ăn chơi đua đòi, chỉ vì muốn có ma túy để thỏa mãn cơn nghiện mà bị cáo bất chấp quy định của pháp luật. Vì vậy, cần lên một mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, do đó khi quyết định hình phạt nên xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có thu nhập công việc ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo là có căn cứ.
Về xử lý vật chứng: 01 (Một) phong bì bưu điện viền xanh đỏ, được dán kín, trên mép dán có đầy đủ chữ ký của hội đồng tham gia niêm phong và chữ ký của bị cáo Moong Văn T bên trong chứa số ma túy (heroine) có khối lượng còn lại là 0,05 gam (không phẩy không năm) cùng vỏ giấy niêm phong ban đầu là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu và tiêu hủy.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Moong Văn T, quá trình điều tra không xác định được danh tính cụ thể nên chưa có cơ sở xử lý, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ sẽ xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật áp dụng và tội danh: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Moong Văn T: 12 (mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 14/8/2019.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu hủy 01 (một) phong bì bưu điện viền xanh đỏ, được dán kín, trên mép dán có đầy đủ chữ ký của hội đồng tham gia niêm phong và chữ ký của bị cáo Moong Văn T, bên trong chứa số ma túy (heroine) có khối lượng còn lại là 0,05 gam (không phẩy không năm) cùng vỏ giấy niêm phong ban đầu.
(Đặc điểm, tình trạng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/10/2019 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện KS và Chi cục Thi hành án dân sự huyện KS tỉnh Nghệ An).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Moong Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Moong Văn T có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; [ơ - VKSND huyện KS; - Chi cục THADS huyện KS; - Công an huyện KS; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; VP.TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Vƣơng Hoàng Hào |