- Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai — án dân sự — "Tranh chấp về lối đi chung và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất"
- Căn cứ chính? Bộ luật Dân sự; Bộ luật Tố tụng dân sự
| TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 141/2018/DS-PT Ngày: 09-10-2018 V/v: “Tranh chấp về lối đi chung và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tự
Các Thẩm phán:
Ông Đ
N
Ông
c
- Thư ký phiên tòa: Ho ng Hải An - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đo n Ng c Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đ Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 153/2018/TLPT-DS ngày 02 tháng 7 năm 2018 về việc: “Tranh chấp về lối đi chung và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 07/2018/DS-ST ngày 25 - 5 - 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 153/2018/QĐ-PT ngày 09-7-2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà N yễ
ị L.
Địa chỉ: Thôn 9, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo ủy quyền: Ho ng Thị T (văn bản ủy quyền ng y 21/9/2018);
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp ph p cho nguyên đơn: Ông N ô Đì
- Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nh nước tỉnh Đắk Lắk;
2. Bị đơn: Ông N yễ
.
Địa chỉ: Thôn 9, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp ph p cho bị đơn: Luật sư
ọ H - Văn phòng Luật sư Công Tâm, Đo n Luật sư tỉnh Đắk Lắk;
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Võ ị ; địa chỉ: Thôn 9, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.
3.2. Ông N yễ Vă N; địa chỉ: tỉnh H Tĩnh.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn N: Ông Nguyễn Trung T (văn bản ủy quyền ng y 12/02/2018).
3.3. Sở Tài nguyên và Mô t
tỉ Đắk Lắk
3.4. Ủy ba
d
yệ C, tỉ Đắk Lắk.
3.5. Ủy ba
d xã E, yệ C, tỉ Đắk Lắk.
Người kháng cáo: Nguyên đơn b Nguyễn Thị L.
Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đ Nẵng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:
Ngày 26/12/1997 âm lịch, bà Nguyễn Thị L có sang nhượng diện tích đất 2.000m2 ở thôn 9, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk bằng giấy viết tay cho hộ gia đình b Nghiêm Thị H và ông Trương Quang . Trong thỏa thuận mua bán hai bên thống nhất 2.000m2 đó đo diện tích 2 đầu đo lại từ 2 mảnh đất v diện tích còn dư lại l diện tích con đường ở giữa mảnh đất (rộng 4,6m) để nguyên hiện trạng con đường m i người vẫn dùng thường xuyên đi qua lại từ trước tới nay.
Năm 2001 gia đình bà H sang nhượng 2.000m2 đó lại cho b Võ Thị C, cùng địa chỉ trên, việc sang sang nhượng bằng giấy viết tay.
Đến năm 2004, bà C đi đăng ký quyền sử dụng đất tại huyện K, lại yêu cầu bà L (mẹ tôi) viết lại giấy sang nhượng đất để đi đăng ký kê khai, chứ không yêu cầu bà H viết giấy như ban đầu. Khi cấp GCNQSDĐ cho bà C thì Ủy ban nhân dân huyện K không kiểm tra thực địa, không xác minh đúng hiện trạng diện tích đất m gia đình bà C đang sử dụng. ởi vì trên đất của hộ bà C sử dụng l thửa 1663 (thửa mới) có một con đường đi đến thửa đất 1664. Do đó, U ND huyện K cấp GCNQSDĐ cho hộ bà C l sai hiện trạng.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp ng y 16/3/2016 cho anh Nguyễn Trung T trên cơ sở hợp đồng t ng cho c ng không phù hợp với hiện trạng.
Nguyên đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk:
- Buộc hộ ông Nguyễn Trung T trả lại diện tích đất nằm trên lối đi của nhà bà L đúng hiện trạng rộng 4,6m x d i 18,86 = 86,7m2 có trước lúc bà L sang nhượng cho bà H. Vị trí: Phía Đông giáp đất sân nh ông Nguyễn Trung T dài 19,8m; Tây giáp đất ông Nguyễn Trung T d i 18,8m; Nam giáp đất bà L rộng 4,6m; ắc giáp đất bà L rộng 4,6m.
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số C 689139 thửa đất số 1200 (nay l thửa 1663), tờ bản đồ số 5, tại xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp ng y 16/3/2016 cho anh Nguyễn Trung T.
Bị đơn ông Nguyễn Trung T trình bày:
Mảnh đất có diện tích 2.000m2 thửa đất số 1200 (nay thửa 1663), tờ bản đồ số 05 tại thôn 9 xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk được Sở t i nguyên v môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tôi v o ng y 16/3/2016, có nguồn gốc l do mẹ tôi l b Võ Thị C t ng cho v o năm 2016. Mảnh đất n y trước đây cha mẹ tôi nhận chuyển nhượng từ b Nghiêm Thị H vào năm 2001 l không có con đường, đến năm 2007 thì cha mẹ tôi được Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Lắk cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Khi mẹ tôi t ng cho quyền sử dụng đất đối với mảnh đất trên thì không có con đường đi trên diện tích đất đó v trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất c ng không thể hiện có con đường đi nên tôi không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của b Nguyễn Thị L. Tôi chấp nhận mở một con đường cuối vườn cho bà L đi sang thửa đất 1664 của bà L, diện tích 53,2m2 ởthôn 9 xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Vị trí như sau: Phía Đông giáp đất của tôi(Thông) d i 13,3m; Phía Tây giáp đất bà L d i 13,3m; Phía Nam v phía ắc đều giáp đất bà L rộng 4m.
Về yêu cầu hủy GCNQSDĐ số C 689139 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp ng y 16/3/2016 Ah 923710 cấp ng y 29/12/2006 cho hộ anh Nguyễn Trung T, tôi không chấp nhận.
Việc bà L cho rằng lúc sang nhượng cho b Nghiêm Thị H có trừ một con đường đi qua, nhưng trong “Giấy sang nhượng đất thổ cư” viết ng y 26-12-97 AL, không ghi vị trí con đường.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
à Võ Thị C trình bày:
Mảnh đất có diện tích 2.000m2 thửa đất số 1200 (nay thửa 1663), tờ bản đồ số 05 tại thôn 9 xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk được Sở t i nguyên v môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tôi. Nguồn gốc lô đất n y tôi nhận chuyển nhượng từ vợ chồng b Nghiêm Thị H, ông Trương Quang v o năm 2001 với diện tích 2.000m2 không có con đường với giá 3.000.000 đồng. Đến năm 2004 thì b Nguyễn Thị L có viết giấy sang nhượng lại diện tích đất trên cho tôi. Năm 2007 vợ chồng tôi được Ủy ban nhân dân huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH923710 với diện tích 2.000m2 c ng không có con đường. Khi tôi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ vợ chồng b Nghiêm Thị H, ông Trương Quang thì trên đất không có con đường đi v o đất của bà L, tôi sử dụng đúng diện tích đất đã nhận chuyển nhượng l 2.000m2 và đúng diện tích đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. V o đầu năm 2016, tôi t ng cho con trai tôi Nguyễn Trung T, nay bà L yêu cầu mở con đường ngay giữa sân nh con trai tôi, đề nghị Tòa giải quyết theo pháp luật.
Ông Nguyễn Văn N - Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Trung T trình bày:
V o năm 2001, ông N cùng bà C nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Trương Quang và bà Nghiêm Thị H với diện tích 2.000m2 ở thôn 9 xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Năm 2004, ông N và bà C xin đăng ký kê khai để cấp GCNQSDĐ, thì bà L l người viết giấy bán c ng không có con đường đi qua lô đất m ông N, bà C nhận chuyển nhượng của bà L. Do vậy, đề nghị Tòa giải quyết theo pháp luật.
Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đắk Lắk trình bày:
Về nguồn gốc đất: Hộ ông Nguyễn Văn N, b Võ Ng c Cường được U ND huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH923710 ng y 29/12/2006 đối với thửa đất số 1200, tờ bản đồ số 05, diện tích 2.000m2 mục đích sử dụng đất trồng cây h ng năm khác tại địa b n thôn 9, xã E, huyện K.
Ng y 24/02/2016, hộ ông Nguyễn Văn N t ng cho quyền sử dụng đất thửa đất nêu trên cho ông Nguyễn Trung T theo hợp đồng t ng quyền sử dụng đất được văn phòng công chứng C công chứng số 00001026 quyển số 04/CC-SCC/HĐGD. Việc t ng cho đã được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C xác nhận trên trang 4 của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH923710 vào ngày 26/02/2016.
Về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Ng y 29/02/2016 Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C nhận được hồ sơ cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Trung T đối với thửa đất số 1200, tờ bản đồ số 05, diện tích 2.000m2 mục đích sử dụng đất trồng cây h ng năm khác tại địa b n xã E, huyện C, Đ. Đơn đề nghị cấp lại cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nh ở v t i sản khác gắn liền với đất ngày 29/02/2016. giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH923710 ng y 29/12/2006, chỉnh lý pháp lý ng y 26/02/2016.
Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 76 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi h nh một số điều của Luật đất đai, chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C kiểm tra xác nhận v o đơn đề nghị cấp lại cấp đổi theo quy định v chuyển Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh trình Sở t i nguyên v môi trường ký giấy chứng nhận.
Ng y 16/3/2016, Sở t i nguyên v môi trường tỉnh ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nh ở v t i sản khác gắn liền với đất số CB689139 cho ông Nguyễn Trung T đối với thửa đất số 1200, bản đồ số 05, diện tích 2.000m2 mục đích sử dụng đất trồng cây h ng năm khác tại địa b n xã E, huyện C, Đ.
Qua kiểm tra hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên, nhận thấy: Tiếp nhận hồ sơ v giải quyết thủ tục đúng thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 60 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ng y 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi h nh một số điều Luật đất đai. Th nh phần hồ sơ đầy đủ, thẩm quyền cấp GCNQSDĐ theo đúng quy dịnh của pháp luật.
Nay bà L khởi kiện tranh chấp về lối đi với anh Nguyễn Trung T v yêu cầu hủy hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Nguyễn Văn N và bà Võ Thị C; Nguyễn Trung T, đề nghị Tòa xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Đắk Lắk trình bày:
Việc U ND huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH923710 ng y 02/4/2007 đối với thửa đất số 1200 (nay l thửa đất số 1663 theo tờ bản đồ địa chính số 05, xã E được đo vẽ, chỉnh lý v Sở t i nguyên v môi trường ký duyệt ng y 17/9/2015) tờ bản đồ số 05, xã E diện tích 2.000m2 cho hộ ông Nguyễn Văn N, b Võ Ng c Cường l đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Sơ đồ thửa đất kèm theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên được lập theo tờ bản đồ số 05, xã E được đo đạc chỉnh lý v can in tháng 11/1993 l thực hiện theo đúng quy định tại quyết định số: 08/2006/QĐ-BTNMT ngày 21/7/2006 của ộ trưởng ộ T i nguyên v môi trường ban h nh quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Về tranh chấp lối đi: Qua đối chiếu với tờ bản đồ địa chính số 05, xã E được đo đạc chỉnh lý v can in tháng 11/1993 v tờ bản đồ địa chính số 05, xã E được đo vẽ, chỉnh lý v Sở t i nguyên v môi trường ký phê duyệt ng y 17/9/2015 thì không thể hiện lối đi ngang qua thửa đất số 1200 (nay l thửa đất số 1663), tờ bản đồ số 05, xã E.
Tuy nhiên, theo kết quả kiểm tra hiện trạng v l m việc giữa cơ quan nh nước với các hộ dân liên quan thì thực tế có lối đi ngang qua thửa đất 1200 để v o thửa đất số 1664 (l thửa đất số 1201 theo tờ bản đồ địa chính số 05, xã E được đo đạc chỉnh lý v can in tháng 11/1993), tờ bản đồ số 5, xã E do hộ b Nguyễn Thị L đang sử dụng. M t khác, theo quy định tại Điều 245 ộ luật dân sự năm 2015 “Chủ sở hữu có bất động sản bị vây b c bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác m không có ho c không đủ lối đi ra đường công cộng, có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây b c d nh cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của h ”
Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk căn cứ hồ sơ, t i liệu v các chứng cứ, tình tiết liên quan để giải quyết vụ án phù hợp với quy định của pháp luật, bảo đảm quyền v lợi ích hợp pháp của tổ chức, các nhân liên quan.
Ủy ban nhân dân xã E trình bày:
- Về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH923710 ng y 02/4/2007 đối với thửa đất số 1200, tờ bản đồ số 5, xã E: Hiện nay hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được lưu giữ tại U ND xã E chỉ có quyết định số 2664/QĐ-U ND ng y 29/12/2006 của U ND huyện K về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Qua đó, không đủ cơ sở để có ý kiến về trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH923710 ng y 02/4/2007.
- Về tranh chấp lối đi: Qua đối chiếu với tờ bản đồ địa chính số 05, xã E được đo đạc chỉnh lý v can in tháng 11/1993 v tờ bản đồ địa chính số 05, xã E được đo vẽ, chỉnh lý v Sở t i nguyên v môi trường ký phê duyệt ng y 17/9/2015 thì không thể hiện lối đi ngang qua thửa đất số 1200 (nay l thửa đất số 1663), tờ bản đồ số 05, xã E.
Tuy nhiên, theo kết quả kiểm tra hiện trạng của U ND xã E với các hộ gia đình, cá nhân có liên quan (có biên bản l m việc ng y 21/8/2017 giữa U ND xã Ea hôk v các hộ gia đình có liên quan kèm theo) các hộ cho biết lối đi được các hộ dùng l m lối đi chung từ trước đến nay.
Do đó, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk căn cứ hồ sơ, t i liệu v các chứng cứ, tình tiết liên quan để giải quyết vụ án phù hợp với quy định của pháp luật, bảo đảm quyền v lợi ích hợp pháp của tổ chức, các nhân liên quan.
Người làm chứng bà Nghiêm Thị H trình bày:
Ngày 26/12/1997 AL, vợ chồng tôi có nhận chuyển nhượng của b Nguyễn Thị L diện tích đất 2.000m2 ở thôn 9, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, (trước đây l thửa 1200, nay thửa đất số 1663). Việc chuyển nhượng chỉ viết giấy tay, khi vợ chồng tôi nhận chuyển nhượng có thỏa thuận với bà L có để một con đường v o thửa đất của bà L thửa 1200 (nay thửa 1664) rộng 4,6m. Năm 2001, do vợ chồng tôi không có nhu cầu sử dụng nên đã chuyển nhượng lại cho b Võ Thị C và ông Nguyễn Văn N. vợ chồng tôi với vợ chồng bà C có giấy viết tay có ghi thống nhất để lại con đường đi lâu d i đi v o nh c của bà L. Từ đó đến nay tôi vẫn thấy m i người đi con đường đó để qua đất rẫy của bà L. Năm 2004, gia đình bà C lại nhờ bà L ghi giấy chuyển nhượng để l m thủ tục đăng ký kê khai không T qua vợ chồng tôi. Do vợ chồng tôi đã chuyển nhượng đất cho gia đình bà C nên tôi c ng không có ý kiến gì. Đề nghị Tòa giải quyết theo pháp luật.
Ngày 05/4/2018, Hội đồng định giá t i sản đang tranh chấp mở lối đi theo vị trí, gồm:
- Vị t í t ứ ất t eo yê c của bà L: Diện tích đất 88,78m2 có trồng 01 cây bơ booth, 01 cây khế năm 2017 ở thôn 9, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, vị trívị trí: Phía Đông giáp đất sân nh ông Nguyễn Trung T d i 19,8m; Tây giáp đất ông Nguyễn Trung T d i 18,8m; Nam giáp đất bà L rộng 4,6m; ắc giáp đất bà L rộng 4,6m. Tổng trị giá 2.112.500 đồng, trong đó: giá trị quyền sử dụng đất: 1.953.000đ, giá trị t i sản trên đất: 159.500đ.
- Vị t í t ứ a t eo yê c của ông T: Diện tích đất 53,3m2 có trồng 07 trụ tiêu, 09 cây muồng ở thôn 9, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, vị trí: Phía Đông giáp đất ông Nguyễn Trung T d i 13,3m; Tây giáp hồ nước bà L dài 13,3m; Nam giáp đất bà L rộng 4m; ắc giáp đất bà L rộng 4m. Tổng trị giá 3.104.000 đồng, trong đó: giá trị quyền sử dụng đất: 1.170.000đ, giá trị t i sản trên đất: 1.934.000đ.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 07/2018/DS-ST ngày 25-5-2018, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk quyết định:
- Áp dụng Điều 689 LDS 2005, Điều 623, 649,650, 651 LDS 2015.
- Áp dụng Nghị định số: 346/1998/TT-TCĐC ng y 16/3/1998 ng y 16/3/1998 về hướng dẫn thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính v cấp GCNQSDĐ
Tuyên xử:
ác to n bộ đơn khởi kiện của b Nguyễn Thị L về việc yêu cầu mở lối đi diện tích 88,78m2, vị trí: Phía Đông giáp đất sân nh ông Nguyễn Trung T dài 19,8m; Tây giáp đất ông Nguyễn Trung T d i 18,8m; Nam giáp đất bà L rộng 4,6m; ắc giáp đất bà L rộng 4,6m ở thôn 9, xã Ea hôk, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. V yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: C 689139 cấp ng y 16/3/2016 mang tên ông Nguyễn Trung T.
Ngo i ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí dân sự sơ thẩm v quyền kháng cáo.
Ngày 07 - 6 - 2018, nguyên đơn b Nguyễn Thị L kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm buộc bị đơn mở lối đi diện tích 88,78m2, vị trí: Phía Đông giáp đất sân nh ông Nguyễn Trung T d i 19,8m; Tây giáp đất ông Nguyễn Trung T d i 18,8m; Nam giáp đất bà L rộng 4,6m; ắc giáp đất bà L rộng 4,6m ở thôn 9, xã Ea hôk, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.
Ng y 20/6/2018, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đ Nẵng có Quyết định kháng nghị số 26/2018/KN-DS-VC2 kháng nghị phúc thẩm bản án dân sự sơ thẩm số 07/2018/DS-ST ngày 25-5-2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk theo hướng đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, với lý do: m c dù nguyên đơn không chấp nhận sử dụng lối đi m bị đơn đồng ý mở để đi v o thửa đất nhưng bản án sơ thẩm bác to n bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, dẫn đến thửa đất không có đường đi, l m ảnh hưởng nghiêm tr ng đến quyền v lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.
ạ
ê t a
c t
Người kháng cáo v người kháng nghị giữ nguyên nội dung kháng cáo, kháng nghị.
Luật sư Trần Trọng H tr nh bày: Nguyên đơn tranh chấp về đất lối đi, nguyên đơn không có yêu cầu mở lối đi nên đây l tranh chấp về quyền sử dụng đất lối đi. Kháng cáo yêu cầu mở lối đi l vượt quá phạm vi khởi kiện. Về nội dung vụ án, các giấy chuyển nhượng đất không có chứng thực nên vô hiệu. Giấy chuyển nhượng đất viết ng y 28/12/2004 của b L không có lối đi. ản đồ địa chính không thể hiện có lối đi qua thửa đất. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Ông Ngô Đ nh tr nh bày: Năm 1997, b L chuyển nhượng đất cho b H có thỏa thuận chừa 4,6m để l m lối đi v o thửa đất của b L. Khi chuyển nhượng đất, b L phải chừa lối đi v o thửa đất của mình. Năm 2001, b H chuyển nhượng đất cho b C có thỏa thuận chừa lối đi v o thửa đất của b L. Như vậy, lối đi đã có từ trước, có thể hiện trên bản đồ. Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn l đánh giá chứng cứ không khách quan. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện ki m s t nhân dân cấp cao tại Đà N ng ph t bi u: Năm 1997, khi chuyển nhượng đất cho b H, hai bên có thỏa thuận chừa 4,6m để l m lối đi. M c dù trên sơ đồ địa chính không thể hiện con đường nhưng trên thực tế lối đi đã có từ trước. Khi chuyển nhượng đất, các bên vẫn thỏa thuận sử dụng con đường đi n y. Việc bị đơn đề nghị mở lối đi ở vị trí cuối thửa đất l không thuận lợi cho nguyên đơn. Việc b L viết giấy chuyển nhượng đất ng y 28/12/2004 nhằm giúp b C hợp thức hóa hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn l vi phạm Điều 254 ộ luật Dân sự. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đ Nẵng theo hướng buộc bị đơn mở lối đi theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NH N Đ NH ỦA A ÁN
[1] Lối đi đang tranh chấp nằm trên thửa đất trước đây thuộc quyền sử dụng của b Nguyễn Thị L. Năm 1997, b L lập giấy viết tay sang nhượng 02 s o đất cho b Nghiêm Thị H v ông Trương Quang B. Nội dung giấy viết tay có thỏa thuận: “Trong số diện tích sào c n dư m và đ i đất th o của chị L dư ra ch nhất trí đ i cho chị L đường đi lâu dài”. [2] Năm 2001, b H chuyển nhượng thửa đất trên cho hộ b Võ Thị C. [3] Lời khai của ông Trương Quang B v b Nghiêm Thị H đều xác nhận khi b L sang nhượng đất v o năm 1997, hai bên có thỏa thuận để lại con đường rộng 4,6m đi ngang qua thửa đất v o thửa đất của b L v đến năm 2001, khi sang nhượng đất cho hộ b Võ Thị C hai bên thống nhất để lại con đường đi như c lối v o đất của b Nguyễn Thị L. [4] Những người l m chứng ông Nguyễn Hữu T, ông Đ ng Đình Đ khai xác nhận con đường đi từ đường nội thôn v o đến đất của b Nguyễn Thị L có từ năm 1998. [5] áo cáo số 111/ C-U ND ng y 31/8/2017 của UBND xã E có nội dung: “Ngày
U N xã c làm việc v i c c chủ sử dụng đất liền kề c biên bản làm việc k m theo c c chủ h cho r ng trư c đây đã c lối đi vào thửa đất nêu trên do h gia đ nh bà Nguyễn Thị L thường xuyên đi lại và hiện nay lối đi được c c h ông Nguyễn Trung T Đ ng Đ nh Đ Nguyễn Ti n ông Nguyễn H u T và bà Nguyễn Thị L sử dụng đ đi” [6] Như vậy, m c dù không vẽ sơ đồ cụ thể nhưng lối đi đã có từ năm 1997 khi b L sang nhượng 2.000m2 đất cho b H. Phần đất lối đi không nằm trong diện tích đất sang nhượng cho b H. H v ông B xác nhận khi sang nhượng đất cho b Võ Thị C năm 2001 c ng chừa phần đất lối đi có chiều rộng 4,6m để đi v o thửa đất của b L. Sau khi nhận sang nhượng v o năm 2001 v đến khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất v o năm 2006, b Võ Thị C không hề có thông báo cho b Nguyễn Thị L về việc chấm dứt sử dụng lối đi. Do đó, có thể xác định b H v ông B không sang nhượng phần đất lối đi cho b Võ Thị C v o năm 2001. Thực tế lối đi n y tồn tại từ năm 1997 đến nay. [7] Việc b C cho rằng khi nhận chuyển nhượng đất năm 2001 không có lối đi v o đất của b L l không phù hợp với các t i liệu, chứng cứ trên. Giấy sang nhượng đất do b Nguyễn Thị L viết ng y 28/12/2004 nhằm giúp cho b C hợp thức hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. T i liệu n y không có ý nghĩa xác định lối đi đang tranh chấp. [8] Việc bị đơn ngăn cản nguyên đơn sử dụng lối đi có từ năm 1997 l không phù hợp với thỏa thuận của các bên về lối đi khi chuyển nhượng đất, vi phạm khoản 1 Điều 254 ộ luật Dân sự năm 2015. [9] Việc U ND huyện K cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 923710 đối với thửa đất số 1200 nói trên không thể hiện con đường đi v o đất b Nguyễn Thị L l không phù hợp với thực tế sử dụng, chuyển nhượng đất giữa các bên liên quan. [10] Tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự đưa ra hai phương án về lối đi. M c dù nguyên đơn không đồng ý với lối đi do bị đơn đề nghị nhưng Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn m không mở lối đi cho nguyên đơn l không thực hiện đúng qui định tại khoản 1 Điều 254 ộ luật Dân sự 2015 như kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đ Nẵng đã nêu. [11] Về ý kiến của Luật sư Trần Tr ng H, thấy rằng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn mở lối đi tại vị trí đã có từ trước. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bao h m tranh chấp về quyền có lối đi trên bất động sản liền kề v quyền được sử dụng lối đi đã có từ trước. Do đó, kháng cáo của nguyên đơn yêu cầu bị đơn mở lối đi l không vượt quá phạm vi khởi kiện như ý kiến của Luật sư. [12] Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy bị đơn cần thừa nhận thực tế lối đi đã có từ năm 1997 v không nằm trong phần đất chuyển nhượng cho hộ b Võ Thị C. Ông Nguyễn Trung T có nghĩa vụ phải mở lối đi theo yêu cầu của nguyên đơn. Theo biên bản định giá ng y 05/4/2018, b L có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Trung T giá trị t i sản trên đất lối đi l : 159.500đ. [13] Do chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn nên cần hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Nguyễn Trung T để cấp lại phù hợp với hiện trạng. [14] Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn v kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đ Nẵng, sửa bản án sơ thẩm. [15] Do kháng cáo được chấp nhận nên người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. B Nguyễn Thị L thuộc diện hộ nghèo nên được miễn nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm.
V c c l trên
U
Đ NH
Căn cứ khoản 2 Điều 308 ộ luật Tố tụng dân sự;
Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn b Nguyễn Thị L;
Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đ Nẵng;
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 07/2018/DS-ST ngày 25-5-2018 của Tòa án
nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
Áp dụng Điều 254 ộ luật Dân sự năm 2015;
Chấp nhận đơn khởi kiện của b Nguyễn Thị L về yêu cầu mở lối đi.
1. uộc ông Nguyễn Trung T có nghĩa vụ mở lối đi diện tích 88,78m2, có vị trí: Phía Đông giáp đất sân nh ông Nguyễn Trung T dài 19,8m; phía Tây giáp đất ông Nguyễn Trung T dài 18,8m; phía Nam giáp đất bà L rộng 4,6m; phía ắc giáp đất bà L rộng 4,6m, tại thôn 9, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. (có sơ đồ kèm theo)
2. Nguyễn Thị L có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Trung T giá trị t i sản trên đất l : 159.500đ.
3. Tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CB 689139 do Sở T i nguyên v Môi trường tỉnh Đắk Lắk cấp ng y 16/3/2016 cho ông Nguyễn Trung T.
4. Á
í d ự t
Ông Nguyễn Trung T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm l 300.000đ.
Nguyễn Thị L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ho n trả b Nguyễn Thị L số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 625.000đ đã nộp tại biên lai số AA/2017/0002283 ng y 01/12/2017 của Cục Thi h nh án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
5. Á
í d ự
c t
Nguyễn Thị L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
ản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ng y tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND cấp cao tại Đ Nẵng; - TAND tỉnh Đắk Lắk; - Cục THADS tỉnh Đắk Lắk; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HS, P.HCTP, LT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉ XỬ PHÚ HẨM HẨM PHÁN - HỦ ỌA PHIÊN A (Đã ký) Lê ự |