- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân"
- Tòa quyết gì? [1] Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hồ Nguyễn Ái T1.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật tốt tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật tốt tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP VŨNG TÀU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:136/2024/HNGĐ - ST Ngày: 10-9-2024 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Hồng Phúc
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Thuý Hảo
Ông Đặng Song Hoàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Lương Ngọc Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 353/2024/HNST ngày 26 tháng 6 năm 2024 về việc: “Tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2024/QĐXX - ST ngày 30 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên Toà số 95/2024/QĐDT-HPT ngày 16-8-2024; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hồ Nguyễn Ái T, sinh năm:1984
Địa chỉ: 1 đường B, phường C, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (xin vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Nhất H, sinh năm 1983
Địa chỉ: 1 đường N, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt đến lần thứ hai).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình làm việc tại Tòa, chị Hồ Nguyễn Ái T1 có những yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
Chị Hồ Nguyễn Ái T và anh Nguyễn Nhất H đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường F (nay là phường T), thành phố X vào ngày 14-12-2011, trên cơ sở tự nguyện.
Sau khi kết hôn cuộc sống hôn nhân của chị T1, anh H1 hạnh phúc và có với nhau 02 người con là Nguyễn Như Ý, sinh ngày 25-5-2013 và Nguyễn Gia H2, sinh ngày 17-12-2015.
Đến năm 2016, cuộc sống hôn nhân của chị T1, anh H1 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân mâu thuẫn do không có tiếng nói chung trong hôn nhân, không cùng quan điểm và nay không còn thương yêu nhau nữa; chị T1, anh H1 đã sống ly thân.
Nay chị T1 cho rằng không còn tình cảm vợ chồng,cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên yêu cầu Tòa án giải quyết những yêu cầu sau:
Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Nhất H3, sinh năm 1983; về con chung: Chị T1, anh H3 có hai con là Nguyễn Như Ý, sinh ngày 25-5-2013 và Nguyễn Gia H2, sinh ngày 17-12-2015, chị T1 yêu cầu tiếp tục được quyền trực tiếp nuôi hai con; về tài sản chung, nợ chung chị T1, anh H3 tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
-Bị đơn anh Nguyễn Nhất H3 được Toà án triệu tập nhiều lần tới Toà án giải quyết vụ kiện nhưng anh H3 không chấp hành và không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị T1.
-Người có quyền và lợi ích hợp pháp được bảo vệ: Cháu Nguyễn Như Ý và cháu Nguyễn Gia H2 có ý kiến: Nếu mẹ là Hồ Nguyễn Ái T1 và bố là Nguyễn Nhất H3 ly hôn không ở chung với nhau nữa thì các cháu có nguyện vọng ở với mẹ.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu phát biểu ý kiến:
[1] Về tố tụng: Thẩm phán đã chấp hành và thực hiện đúng nhiệm vụ quyền hạn quy định tại điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; tại phiên Tòa thư ký và hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định tại Điều 51,63 Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình xét xử tuân thủ đúng trình tự quy định tại các điều: Điểm a khoản 2 Điều 227, 228,239,254 và Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Nguyên đơn chị Hồ Nguyễn Ái T1 đã chấp hành và thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, bị đơn anh H3 không chấp hành và thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều: Điều 56, 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hồ Nguyễn Ái T1.
Về con chung: Chị T1 và anh H3 có với nhau hai người con là Nguyễn Như Ý, sinh ngày 25-5-2013 và cháu Nguyễn Gia H2, sinh ngày 17-12-2015; chị T1 yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi hai con. Cháu Ý, cháu H2 có nguyện vọng tiếp tục được ở với mẹ; đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Ý, cháu H2 cho chị Hồ Nguyễn Ái T1 trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu nên không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[3]Về án phí HNST: Nguyên đơn chị Hồ Nguyễn Ái T1 phải chịu 300.000đ(Ba trăm ngàn đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại Tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu; nhận định của Tòa án:
Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp ly hôn giữa nguyên đơn chị Hồ Nguyễn Ái T1 và bị đơn anh Nguyễn Nhất H3.
Các đương sự hiện cư trú thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, do đó vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu; căn cứ khoản 1 điều 28, điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Nguyên đơn chị Hồ Nguyễn Ái T1 có đơn xin giải quyết vắng mặt( Bl số 20); Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Hồ Nguyễn Ái T1.
Bị đơn anh Nguyễn Nhất H3 vắng mặt đến lần thứ hai căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tốt tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Nhất H3.
Về nội dung: Năm 2011, chị Hồ Nguyễn Ái T1 và anh Nguyễn Nhất H3 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường F, nay là phường T, thành phố V và chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, nên hôn nhân giữa chị T1, anh H3 là đúng quy định của pháp luật.
Chị T1 cho rằng từ năm 2016 cho đến nay cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc vì tình cảm vợ chồng không còn. Nguyên nhân do cuộc sống hôn nhân phát sinh nhiều mâu thuẫn; chị T1 cho rằng vợ chồng bất đồng quan điểm sống; chị T1, anh H3 đã sống ly thân.
Qua việc xác minh mâu thuẫn: Chính quyền địa phương nơi vợ chồng chị T1, anh H3 cư trú, sinh sống cho biết; chị T1, anh H3 mâu thuẫn thế nào thì không nắm rõ, hiện vợ chồng chị T1, anh H3 không còn sống ở nhà anh H3 nữa.
Nhận định của Hội đồng xét xử: Mâu thuẫn giữa vợ chồng chị Hồ Nguyễn Ái T1 và anh Nguyễn Nhất H3 là có thật, thể hiện chị T1, anh H3 đã sống ly thân nhau từ năm 2016 cho đến nay; hai con là cháu Nguyễn Như Ý và cháu Nguyễn Gia H2, sống với chị T1 ở số A B, phường C, thành phố V; anh H3 hiện cùng gia đình sinh sống tại Phường T và bán quán .
Hội đồng xét xử xét thấy; cuộc sống hôn nhân giữa chị T1, anh H3 đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh H3 không có ý kiến về yêu cầu ly hôn của chị T1; do đó Hội đồng xét xử có đủ căn cứ áp dụng Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hồ Nguyễn Ái T1; chị Hồ Nguyễn Ái T1 được ly hôn với anh Nguyễn Nhất H3.
Về con chung: Chị T1, anh H3 có với nhau hai người con; là cháu Nguyễn Như Ý, sinh ngày 25-5-2013 và cháu Nguyễn Gia H2, sinh ngày 17-12-2015. Cháu Ý, cháu H2 có nguyện vọng ở với mẹ.
Hội đồng xét xử xét thấy; theo nguyện vọng của các con và điều kiện về nơi cư trú, nơi ở và khả năng nuôi dưỡng đối với các con của chị T1; từ khi ly chị T1, anh H3 sống ly thân năm 2016 cho đến nay, chị T1 là người trực tiếp nuôi con; do đó có đủ căn cứ tiếp tục giao cháu Nguyễn Như Ý và cháu Nguyễn Gia H2 cho chị Hồ Nguyễn Ái T1 trực tiếp nuôi dưỡng.
Chị T1 cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh H3 trong việc thăm nom, chăm sóc giáo dụng con. Anh H3 cùng các thành viên trong gia đình tôn trong quyền được trực tiếp nuôi con của chị T1.
Quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con căn cứ Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Án phí HNST: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; chị Hồ Nguyễn Ái T1 phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng); nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí chị T1 đã nộp theo biên lai thu số 0000230, ngày 25-6-2024, của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu; chị T1 đã nộp xong án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 1,2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, 57,81,82,83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
Tuyên xử:
[1] Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hồ Nguyễn Ái T1. Chị Hồ Nguyễn Ái T1 được ly hôn với anh Nguyễn Nhất H3.
[2] Về con: Chị T1, anh H3 có với nhau hai người con; cháu Nguyễn Như Ý, sinh ngày 25-5-2013 và cháu Nguyễn Gia H2, sinh ngày 17-12-2015.
[2.1] Giao hai con là Nguyễn Như Ý, sinh ngày 25-5-2013 và Nguyễn Gia H2, sinh ngày 17-12-2015, cho chị Hồ Nguyễn Ái T1 được quyền trực tiếp nuôi dưỡng.
Chị T1 cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh H3 trong việc thăm nom giáo dục con. Anh H3 cùng các thành viên trong gia đình tôn trong quyền được nuôi con của chị T1.
Quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con căn cứ Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[5] Án phí HNST: Chị Hồ Nguyễn Ái T1 phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng); nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí chị T1 đã nộp theo biên lai thu số 0000230 ngày 25-6-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu; chị Hồ Nguyễn Ái T1 đã nộp xong án phí.
[6] Quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt quyền kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc 15 ngày, tính từ ngày bản án được niêm yết công khai để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[7] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu; - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu; - Ủy ban nhân dân phường( 06 cũ) nay là phường Thắng Nhì, thành phố Vũng Tàu; - Lưu hồ sơ. | Trịnh Hồng Phúc |