vanban.org

Bản án 140/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng Tuyên án 28/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

X phạt bị cáo Trần Văn M 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái ph p chất ma túy”, thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 12/6/2023.

X phạt bị cáo Vũ Văn Q 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái ph p chất ma túy”, thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 12/6/2023. Về lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật H nh s và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng H nh s : Tịch thu tiêu hủy 01 phong b niêm phong chứa … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Minh, Vũ Văn Quang - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? X phạt bị cáo Trần Văn M 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái ph p chất ma túy”, thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 12/6/2023.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng H nh s; Điều 136 Bộ luật Tố tụng H nh s
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
THÀNH PHỐ P

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------------------------------------------------
Bản án số: 140/2023/HS-ST
Ngày: 28-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TP. P

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vân

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Đức Khoa

Bà Bùi Thúy Mở

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, thành phố P.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện N, thành phố P tham gia phiên tòa: Ông Bùi Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải hòng t s th m c ng khai vụ án h nh s s th m T lý số: 129/2023/TLST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra t

số 132/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Bị cáo Trần Văn M, sinh năm 1991 tại P; n i cư trú: Thôn T, xã A, huyện N, thành phố P; nghề nghiệp: Lao động t do; tr nh độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; t n giáo: Kh ng; quốc tịch: Việt Nam; con ng Trần Văn Mạnh; con bà hạm Thị L; có vợ là hùng Thị H và 03 con; tiền án: Kh ng; tiền s : Kh ng; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 12/6/2023 đến ngày 21/6/2023 chuyển tạm giam; có mặt.

2. Bị cáo Vũ Văn Q, sinh năm 1994 tại P; n i cư trú: Thôn N, xã A, huyện N, thành phố P; nghề nghiệp: Lao động t do; tr nh độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; t n giáo: Kh ng; quốc tịch: Việt Nam; con ng Vũ Văn M (đã chết); con bà Bùi Thị Ch; chưa có vợ con; tiền án: Kh ng; tiền s : Kh ng; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 12/6/2023 đến ngày 21/6/2023 chuyển tạm giam; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 30 phút ngày 12/6/2023 tại chân cầu Hoàng Văn T thuộc th n 4B, xã Đư n, huyện N, P, Công an xã Đư n kết hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy C ng an huyện N phát hiện Trần Văn M và Vũ Văn Q có biểu hiện nghi vấn cất giấu trái ph p chất ma túy. Tiến hành kiểm tra, l c lượng C ng an thu giữ: 01 túi nilon kích thước 1,5cm 02cm chứa chất bột màu trắng bên trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long cất giấu tại túi quần phía trước bên trái M đang mặc; tạm giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen gắn sim số 0983591028 của Trần Văn M; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone gắn sim số 0334452950 của Vũ Văn Q và 01 xe mô tô BKS 16K5-9788. Tổ c ng tác đưa M và Q cùng vật chứng về trụ sở C ng an ã Lập Lễ lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang.

Tại C quan điều tra, Trần Văn M và Vũ Văn Q khai: Trần Văn M và Vũ Văn Q đều là đối tượng nghiện ma túy, khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 12/6/2023, M và Q liên lạc với nhau qua điện thoại di động để rủ nhau cùng đi mua ma túy về s dụng. Một lúc sau, Q đi đến nhà M, tại đây, M đưa e m t biển kiểm soát: 16K5-9788 cho Q để Q điều khiển chở M đến khu v c Cầu Tre, Quận Ng Quyền, P để đi mua ma túy. Trên đường đi, M nói với Q sẽ mua 200.000 đồng ma tuý Heroine về chia cho Q một n a để s dụng. Khi đến n i, Q đứng chờ còn M đi đến gặp một người nam giới khoảng 50 tuổi, kh ng quen biết để hỏi mua 200.000 đồng ma tuý Heroine, người nam giới này đồng ý bán và nhận số tiền 200.000 đồng rồi đưa lại cho M 01 túi nilon kích thước 1,5cm 02cm chứa ma tuý Heroine. Sau khi mua được ma tuý, M cho túi nilon chứa ma tuý Heroine vào 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long rồi cất vào túi quần phía trước bên trái đang mặc đi lên e của Q đang đợi. Sau đó Q điều khiển e m t chở M về nhà, khi đến khu v c chân cầu Hoàng Văn T thuộc th n 4B, ã D, N, P th bị l c lượng C ng an kiểm tra phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng như trên.

Tiến hành kiểm tra e m t BKS 16K-5-9788 và khám t kh n cấp n i ở của các đối tượng kh ng phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu g liên quan đến hành vi phạm tội.

Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người chứng kiến, kết luận giám định, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ s vụ án.

Tại bản Kết luận giám định số 501/KL-KTHS ngày 15/6/2023 của hòng kỹ thuật h nh s C ng an thành phố P kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ trên người Trần Văn M là ma túy, có khối lượng 0,17gam, loại Heroine.

Vật chứng: Chất ma túy, vỏ bao gói còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 b giấy, dấu niêm phong số 501MT/ C09; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, vỏ màu đen đã qua s dụng gắn sim số 0983591028 của Trần Văn M; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ màu bạc đã qua s dụng gắn sim số 0334452950 của Vũ Văn Q chuyển Chi cục Thi hành án dân s huyện N quản lý.

Đối với chiếc e m t biển kiểm soát:16K5-9788 tạm giữ của Trần Văn M, quá tr nh điều tra chưa ác định được chủ sở hữu hợp pháp nên C quan CSĐT C ng an huyện N tách ra tiếp tục ác M làm rõ, lý sau.

Tại bản cáo trạng số 147/CT-VKSTN ngày 14/9/2023 Viện Kiểm sát nhân dân huyện N, thành phố P đã truy tố bị cáo Trần Văn M và bị cáo Vũ Văn Q về tội “Tàng trữ trái ph p chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật H nh s .

Tại phiên tòa:

Bị cáo Trần Văn M và bị cáo Vũ Văn Q khai nhận hành vi của m nh như nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện N, do nghiện ma túy nên các bị cáo đã có hành vi đi mua ma túy và cất giấu để s dụng cho bản thân, các bị cáo biết hành vi của m nh là vi phạm pháp luật, ăn năn hối hận và đề nghị Hội đồng t cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền c ng tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Trần Văn M và bị cáo Vũ Văn Q đã có hành vi cất giấu trái ph p chất ma túy là Heroine có khối lượng 0,17gam để s dụng cho bản thân. Hành vi của các bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái ph p chất ma túy”. Do đó, đề nghị Hội đồng t tuyên bố bị cáo Trần Văn M và bị cáo Vũ Văn Q tội “Tàng trữ trái ph p chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, 58 của Bộ luật H nh s

phạt bị cáo Trần Văn M từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù và phạt bị cáo Vũ Văn Q từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù. Thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày tạm giữ của từng bị cáo. Kh ng áp dụng phạt bổ sung đối với các bị cáo. Về lý vật chứng áp dụng Điều 47 của Bộ luật H nh s và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng H nh s đề nghị lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong b niêm phong chứa chất ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao bì. Tịch thu phát mãi sung Ngân sách Nhà nước đối với: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, vỏ màu đen đã qua s dụng gắn sim số 0983591028; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ màu bạc đã qua s dụng gắn sim số 0334452950. Buộc các bị cáo phải chịu án phí h nh s s th m theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã được th m tra, t hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng t nhận thấy như sau:

- Về tố tụng:

. Hành vi, quyết định tố tụng của C quan điều tra C ng an huyện N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá tr nh điều tra, truy tố đã th c hiện đúng về th m quyền, tr nh t , thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng H nh s . Quá tr nh điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo kh ng có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của C quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của C quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã th c hiện đều hợp pháp.

. Hành vi, quyết định tố tụng của thành viên Hội đồng t , Thư ký phiên tòa đã th c hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng H nh s .

- Về tội danh và điều luật áp dụng:

. Bị cáo Trần Văn M và bị cáo Vũ Văn Q đã có hành vi cất giữ trái ph p chất ma túy là Heroine có khối lượng 0,17gam để s dụng cho bản thân. Hành vi của các bị cáo là cố ý và nghiêm trọng, tr c tiếp âm phạm đến s độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy được pháp luật bảo vệ, vi phạm Luật phòng chống ma túy, tiếp tay cho hoạt động mua bán trái ph p chất ma túy và là nguyên nhân gây nên các loại tội phạm khác. Với hành vi nêu trên, bị cáo Trần Văn M và bị cáo Vũ Văn Q đã phạm tội “Tàng trữ trái ph p chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật H nh s . Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn M và bị cáo Vũ Văn Q thừa nhận hành vi phạm tội của m nh như cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện N, thành phố P.

- Về các t nh tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm h nh s , tính chất vụ án, nhân thân và h nh phạt:

. Bị cáo Trần Văn M và bị cáo Vũ Văn Q kh ng có t nh tiết tăng nặng trách nhiệm h nh s . Tại C quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Trần Văn M và bị cáo Vũ Văn Q thành kh n khai báo do đó cần cho bị cáo Trần Văn M và bị cáo Vũ Văn Q hưởng t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh s quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật H nh s . Nhân thân: Các bị cáo từ trước đến thời điểm t chưa từng bị lý về hành vi vi phạm pháp luật g nên được nhận định là có nhân thân tốt. Về vai trò đồng phạm: Các bị cáo là những đối tượng nghiện ma túy cùng rủ nhau mua ma túy về để s dụng cho bản thân, đây là phạm tội đồng phạm giản đ n có vai trò đồng phạm là như nhau.

Từ những t nh tiết trên, cần thiết phải áp dụng h nh phạt tù có thời hạn trên mức khởi điểm của khung h nh phạt và buộc các bị cáo chấp hành tại trại giam trong một thời hạn nhất định nhằm trừng trị, giáo dục các bị cáo ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa các bị cáo phạm tội mới, giáo dục người khác t n trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

. Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật H nh s quy định bị cáo có thể bị áp dụng h nh phạt bổ sung là phạt tiền. X t thấy, bị cáo Trần Văn M và bị cáo Vũ Văn Q là đối tượng nghiện ma túy, kh ng có nghề nghiệp thu nhập ổn định, kh ng có tài sản riêng nên kh ng áp dụng h nh phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

- Về lý vật chứng:

. 01 phong b niêm phong chứa chất ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao b ác định là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên áp dụng Điều 47 của Bộ luật H nh s và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng H nh s cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, vỏ màu đen đã qua s dụng gắn sim số 0983591028 của Trần Văn M; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ màu bạc đã qua s dụng gắn sim số 0334452950 của Vũ Văn Q dùng làm phư ng tiện để phạm tội cần tịch thu phát mãi sung Ngân sách Nhà nước.

. Trong vụ án này còn có đối tượng bán trái ph p chất ma túy cho M và Q, quá tr nh điều tra kh ng ác định được tên tuổi, địa ch nên kh ng có c sở lý.

Đối với chiếc e m t biển kiểm soát:16K5-9788 tạm giữ của Trần Văn M, quá tr nh điều tra chưa ác định được chủ sở hữu hợp pháp nên C quan CSĐT C ng an huyện N tách ra tiếp tục ác M làm rõ, lý sau.

- Về án phí: Bị cáo Trần Văn M và bị cáo Vũ Văn Q phải chịu án phí h nh s s th m theo quy định.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo Trần Văn M và bị cáo Vũ Văn Q được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

V các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật H nh s :

X phạt bị cáo Trần Văn M 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái ph p chất ma túy”, thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 12/6/2023.

X phạt bị cáo Vũ Văn Q 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái ph p chất ma túy”, thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 12/6/2023.

- Về lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật H nh s và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng H nh s : Tịch thu tiêu hủy 01 phong b niêm phong chứa chất ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao b .

Tịch thu phát mãi sung Ngân sách Nhà nước đối với: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, vỏ màu đen đã qua s dụng gắn sim số 0983591028; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ màu bạc đã qua s dụng gắn sim số 0334452950.

(Vật chứng có đặc điểm được m tả tại hiếu nhập kho và Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/9/2023 của Chi cục thi hành án dân s huyện N, thành phố P).

Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng H nh s ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Trần Văn M và bị cáo Vũ Văn Q mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí h nh s s th m.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng H nh s : Bị cáo Trần Văn M và bị cáo Vũ Văn Q có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân s th người được thi hành dân s , người phải thi hành dân s có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân s ; thời hiệu thi hành án được th c hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân s .

Cỡ chữ