vanban.org

Bản án 140/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ngô Quyền, TP. Hải Phòng Tuyên án 12/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nguyễn Tuấn A 18 (mười tám) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Trần Trung H 15 (mười lăm) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 20/3/2023. Nguyễn Tiến H1 15 (mười lăm) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 20/3/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Tuấn A và đồng phạm phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi,…"
  • Tòa quyết gì? Nguyễn Tuấn A 18 (mười tám) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGÔ QUYỀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 140/2023/HS-ST
Ngày 12-9-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hảo

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lý Thị Thiên Nga

Bà Hà Thị Mão

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Loan - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Đoàn Đình Hưởng - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 137/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 299/2023/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 16 tháng 7 năm 2001 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Phạm Thị T2; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ ngày 20/3/2023; tạm giam ngày 24/3/2023; có mặt.

2. Trần Trung H, sinh ngày 15 tháng 01 năm 2002 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T3 và bà Nguyễn Thị V; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ ngày 20/3/2023; tạm giam ngày 24/3/2023; có mặt.

3. Nguyễn Tiến H1, sinh ngày 21 tháng 01 năm 2002 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thị trấn T, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H3 (đã chết) và bà Bùi Thị Thu H4; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ ngày 20/3/2023; tạm giam ngày 24/3/2023; có mặt.

4. Tăng Thị Mộng T, sinh ngày 16 tháng 01 năm 2005 tại Sóc Trăng. Nơi ĐKHKTT: Ấp K, xã L, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; không có nơi ở ổn định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tăng Hiếu L và bà Lâm Thị Mỹ N; bị cáo chưa có chồng, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ ngày 20/3/2023; tạm giam ngày 24/3/2023; có mặt.

- Người làm chứng: Anh P; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ ngày 19/3/2023, Nguyễn Tuấn A, Tăng Thị Mộng T và Trần Trung H ngồi ăn uống với nhau tại khu vực cầu Vàng 2, thuộc H1ện An Lão, thành phố Hải Phòng. Một lúc sau, T đi vào nhà vệ sinh thì Tuấn A đề xuất với H cùng mua ma túy để cả nhóm sử dụng, H đồng ý. Sau khi T quay về bàn ăn được Tuấn A và H nói lại thì T cũng đồng ý cùng đi mua ma túy về sử dụng. H nói có bạn là Nguyễn Tiến H1 biết chỗ bán ma túy, để H nhờ H1 mua hộ ma túy cho cả nhóm, rồi nhóm Tuấn A thuê anh P lái xe taxi chở cả nhóm đến nhà H1, trên đường đi nhóm thống nhất nhờ H1 mua hộ 05 viên ma túy thuốc lắc và 02 gói Ketamine rồi về nhà H1 sử dụng. H gọi điện, nhắn tin nhờ H1 mua hộ ma túy, H1 đồng ý. Xe taxi chở Tuấn A, T, H đến đón H1 rồi chở cả nhóm di cH1ển về nội thành Hải Phòng để mua ma túy, trên xe H1 gọi vào số điện thoại 0785798623 cho người đàn ông tên Quang hỏi mua 05 viên ma túy thuốc lắc và 02 gói Ketamine. Sau khi H1 trao đổi với Quang xong thì nói với cả nhóm là không còn ma túy thuốc lắc, chỉ còn ma túy Ketamine, mua 02 gói Ketamine giá 2.400.000 đồng. Tuấn A, T, H đồng ý mua và thống nhất mỗi người góp 800.000 đồng để mua ma túy, H chưa có tiền nên nói sẽ góp tiền sau. H1 bảo nhóm phải cH1ển khoản 1.500.000 đồng vào tài khoản số 06920039999 ngân hàng Quân đội mà Quang cho H1 để trả trước một phần tiền mua ma túy. Do Tuấn A không có tiền trong tài khoản nên T cH1ển vào tài khoản của Tuấn A 2.000.000 đồng và bảo mọi người góp tiền trả lại T sau. Khi Tuấn A nhận được tiền thì cH1ển 1.500.000 đồng vào tài khoản của Quang, rồi Quang hẹn H1 đến khu vực đầu ngõ 80 đường Lê Lai, phường Lạc Viên, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng để giao dịch mua bán ma túy. Đến khoảng 00 giờ 20 phút ngày 20/3/2023, xe taxi chở nhóm Tuấn A đến điểm hẹn thì H1 và H xuống xe ra gặp Quang, Quang đưa cho H1 02 gói Ketamine rồi điều khiển xe mô tô rời đi, H và H1 vừa lên xe taxi để đi về thì bị Công an phường Lạc Viên, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đến kiểm tra, H1 hoảng sợ ném 02 gói Ketamine vừa mua xuống sàn xe taxi gần chỗ Tuấn A ngồi. Lực lượng công an phát hiện thu giữ trên sàn xe 02 gói nilon, mỗi gói có kích thước 02cm x 02cm bên trong đều chứa chất tinh thể màu trắng, thu 01 điện thoại Iphone 12 Pro Max màu trắng của Tuấn A, thu 01 điện thoại Iphone 14 Pro Max màu tím của T, thu 01 điện thoại Iphone X màu đen của H, thu 01 điện thoại Sony màu xám của H1. Lực lượng công an đưa H1, H, Tuấn A, T và anh P về trụ sở Công an phường Lạc Viên, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng lập biên bản.

Kết quả khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Anh Tuấn, Trần Trung H, Nguyễn Tiến H1 không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến ma túy.

Tại Kết luận giám định số 268/KL-KTHS(MT) ngày 23/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng, kết luận: Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,59 gam, loại Ketamine.

Kết quả xét nghiệm nước tiểu của Trần Trung H dương tính với chất ma túy MDMA, của Nguyễn Anh Tuấn, Tăng Thị Mộng T, Nguyễn Tiến H1 đều âm tính với test thử các chất ma túy.

Quá trình điều tra, Nguyễn Tuấn A, Tăng Thị Mộng T, Trần Trung H và Nguyễn Tiến H1 đều khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên và khai: Mục đích nhóm rủ nhau đi mua 02 gói ma túy Ketamine để về nhà H1 cùng nhau sử dụng. Trong số tiền mua ma túy 2.400.000 đồng, đã thanh toán 1.500.000 đồng đây là tiền do Tuấn A và T bỏ ra, còn tH 900.000 đồng tiền mua ma túy, nếu không bị bắt thì H phải góp 800.000 đồng, Tuấn A và T phải góp 100.000 đồng để trả đủ tiền mua ma túy, còn tiền thuê xe taxi hết bao nhiêu thì Tuấn A, T và H đóng góp để trả. H1 không phải đóng góp bất kỳ khoản tiền nào. H1 và H không nhận dạng được người bán ma túy tên Quang.

Anh P khai là lái xe taxi của Công ty taxi Tùng Cường. Khoảng 23 giờ ngày 19/3/2023, Công ty báo anh đến khu vực cầu Vàng 2 thuộc H1ện An Lão đón khách đi nội thành Hải Phòng. Anh P đến chở Nguyễn Tuấn A, Tăng Thị Mộng T, Trần Trung H và Nguyễn Tiến H1 đến khu vực đầu ngõ 80 đường Lê Lai, phường Lạc Viên, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng theo yêu cầu của khách, anh P không biết nhóm Tuấn A mua và cất giữ ma túy.

Về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ: 01 bì giấy dấu niêm phong số 268MT/PC09 chứa số ma túy còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao gói của mẫu vật; 01 điện thoại Iphone 12 Pro Max màu trắng của Tuấn A, 01 điện thoại Iphone 14 Pro Max màu tím của T, 01 điện thoại Iphone X màu đen của H và 01 điện thoại Sony màu xám của H1 cH1ển Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

Tại Bản Cáo trạng số 144/CT-VKSNQ ngày 22/8/2023, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo Nguyễn Tuấn A, Trần Trung H, Nguyễn Tiến H1 và Tăng Thị Mộng T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, các bị cáo khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Kiểm sát viên tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A với mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù, các bị cáo Trần Trung H, Nguyễn Tiến H1 và Tăng Thị Mộng T với mức án từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy dấu niêm phong số 268MT/PC09 chứa số ma túy còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao gói của mẫu vật; tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 12 Pro Max màu trắng, 01 điện thoại Iphone 14 Pro Max màu tím, 01 điện thoại Iphone X màu đen và 01 điện thoại Sony màu xám thu giữ của các bị cáo. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo, người làm chứng không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Về việc vắng mặt của người làm chứng: Người làm chứng là anh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, người làm chứng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của người làm chứng không làm ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người làm chứng theo quy định tại khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Về tội danh:

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 00 giờ 20 phút ngày 20/3/2023, tại khu vực đầu ngõ 80 đường Lê Lai, phường Lạc Viên, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tổ công tác của Công an phường Lạc Viên bắt quả tang Nguyễn Tuấn A, Tăng Thị Mộng T, Trần Trung H và Nguyễn Tiến H1 cất giữ trái phép 02 gói ma túy Ketamine có khối lượng 1,59 gam, mục đích để cùng nhau sử dụng. Như vậy, hành vi của các bị cáo đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy với tình tiết định khung hình phạt là “Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố đối với các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.

- Về nhân thân:

Các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về vai trò trong đồng phạm:

Bị cáo Tuấn A là người khởi xướng, đề xuất việc sử dụng ma túy và góp tiền với H và T cùng đi mua ma túy nên vai trò của Tuấn A là cao nhất trong đồng phạm. Các bị cáo H và T tham gia tích cực trong việc góp tiền cùng đi mua ma túy còn bị cáo H1 tuy không góp tiền nhưng tích cực trong việc liên hệ với đối tượng tên Quang, trực tiếp giao dịch để mua được ma túy nên cần đánh giá vai trò của các bị cáo H, T và H1 là ngang nhau.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, xâm phạm trật tự trị an xã hội, làm phát sinh nhiều loại tội phạm hình sự khác. Do đó, cần buộc các bị cáo cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục và răn đe, phòng ngừa tội phạm. Căn cứ vào nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và vai trò trong đồng phạm, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt đối các bị cáo H, T và H1 ngang nhau và thấp hơn mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo Tuấn A theo quy định tại Điều 58 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt bổ sung:

Các bị cáo không có tài sản và thu nhập nên không cần thiết bắt các bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

- Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy dấu niêm phong số 268MT/PC09 chứa số ma túy còn lại sau giám định và toàn bộ vỏ bao gói của mẫu vật; tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 12 Pro Max màu trắng của Tuấn A, 01 điện thoại Iphone 14 Pro Max màu tím của T, 01 điện thoại Iphone X màu đen của H và 01 điện thoại Sony màu xám của H1 các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

- Về án phí:

Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Trong vụ án này, theo lời khai của Nguyễn Tiến H1 thì người đàn ông tên Quang sử dụng số điện thoại 0785.798.623 bán ma túy cho H1, kết quả xác minh chủ thuê bao là Trần Thanh Quang sinh năm 1999, trú tại số 20/49/106 Lê Lai, phường Lạc Viên, quận Ngô Quyền, Hải Phòng. Hiện nay Trần Thanh Quang không sinh sống tại địa phương, Nguyễn Tiến H1 và Trần Trung H không nhận dạng được Quang. Đối với tài khoản số 06920039999 ngân hàng Quân Đội mà Quang cho Nguyễn Tiến H1 để trả trước một phần tiền mua ma túy, kết quả xác minh chủ tài khoản là chị Lê Thị Thúy sinh năm 2003, trú tại Thủy Giang, Hải Thành, Dương Kinh, Hải Phòng, hiện nay chị Thúy không có mặt tại địa phương, nên chưa có căn cứ để xử lý.

Đối với anh P lái xe taxi chở nhóm Tuấn A đến đầu ngõ 80 Lê Lai, nhưng anh P không biết nhóm Tuấn A mua và cất giữ ma túy, nên không có căn cứ xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:

Nguyễn Tuấn A 18 (mười tám) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 20/3/2023.

Trần Trung H 15 (mười lăm) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 20/3/2023.

Nguyễn Tiến H1 15 (mười lăm) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 20/3/2023.

Tăng Thị Mộng T 15 (mười lăm) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 20/3/2023.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 hộp giấy niêm phong số 268MT/PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng chứa ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định; tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 12 Pro Max màu trắng, 01 điện thoại Iphone 14 Pro Max màu tím, 01 điện thoại Iphone X màu đen và 01 điện thoại Sony màu xám theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/8/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo Nguyễn Tuấn A, Trần Trung H, Nguyễn Tiến H1 và Tăng Thị Mộng T, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo Nguyễn Tuấn A, Trần Trung H, Nguyễn Tiến H1 và Tăng Thị Mộng T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ