vanban.org

Bản án 140/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 08/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:

Xử phạt bị cáo Lường Văn S 02 năm 04 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/4/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Văn Siên - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự Tịch thu tiêu hủy; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự tuyên bố
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 140/2023/HS - ST
Ngày 07 - 8 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Nhung

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Nghĩa.

2. Ông Quàng Văn Biên.

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Quang Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Trần Thanh Quân - Kiểm sát viên

Ngày 07 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 144/2023/HSST ngày 14 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 136/2023/QĐXXST - HS ngày 26 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lường Văn S - Sinh năm 1972; Nơi cư trú: Bản C, xã E, huyện M, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 3/12; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Chức vụ đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông Lường Văn B và bà Lường Thị L (đã chết); Bị cáo có vợ là Lò Thị D và có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2017); Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

+ Bị Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La xử phạt 12 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản tại bản án số 28/2005/HSST ngày 24/5/2005.

+ Bị Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La xử phạt 12 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản tại bản án số 118/2007/HSST, ngày 25/10/2007.

Bị cáo bị tạm giữ, giam từ ngày 19/4/2023 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 20 giờ 20 phút, ngày 18/4/2023 tổ công tác Công an xã E, huyện M làm nhiệm vụ rà soát người nghiện ma túy thuộc diện quản lý của xã tại bản C, xã E đã phát hiện Lường Văn S đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ tại túi quần bên trái của S đang mặc 05 gói nilon bên trong 03 gói nilon màu hồng và 02 gói nilon màu trắng đều chứa chất bột liên kết màu trắng (S khai nhận là Heroine). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ và niêm phong vật chứng.

Ngày 19 tháng 4 năm 2023 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã đã thành lập hội đồng mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng vật chứng và trích mẫu giám định, kết quả: Cân tịnh số bột liên kết màu trắng trong 05 gói nilon có khối lượng 0,45 gam, trích 0,10 gam làm mẫu giám định ký hiệu S. Vật chứng còn lại 0,35 gam ký hiệu L.

Kết luận giám định số 858/KL-KTHS ngày 24 tháng 4 năm 2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: "Mẫu ký hiệu S gửi giám định là ma túy; Loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,10gam.

Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,45 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất".

Quá trình điều tra bị cáo khai nhận: Khoảng 09 giờ ngày 15/4/2023, S mang theo 130.000 đồng đi bộ từ nhà đến xã P, huyện M để tìm mua ma túy về sử dụng. Sau đó, S đi vào bản của người dân tộc Mông thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết, S hỏi mua được 01 gói Heroine từ người đàn ông với số tiền 130.000 đồng. Sau khi mua được Heroine S về nhà và chia gói Heroine đã mua ra thành các gói nilon nhỏ để dễ sử dụng. Từ ngày 15/4/2023 đến ngày 18/4/2023, mỗi ngày S lấy ra 01 gói Heroine để sử dụng, còn lại 05 gói nilon chứa Heroine (gồm 03 gói màu hồng và 02 gói màu trắng) S cất giấu ở trong túi quần đang mặc. Đến khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 18/4/2023 khi S đang ở nhà thì tổ công tác Công an xã E, huyện M đến test thử ma túy đối với S thì phát hiện bắt quả tang S đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ và niêm phong vật chứng.

Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 95/CT-VKSSM ngày 13 tháng 7 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Lường Văn S về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lường Văn S từ 02 năm 02 tháng - 02 năm 06 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung. Xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi trừ đi mẫu gửi giám định cùng 05 mảnh nilon và 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; Miễn án phí và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, xin được miễn án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Sông Mã, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về các chứng cứ xác định tội danh: Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập vào hồi 20 giờ 30 phút, ngày 18/4/2023 đối với Lường Văn S cùng vật chứng bị thu giữ là 05 gói nilon bên trong 03 gói nilon màu hồng và 02 gói nilon màu trắng đều chứa chất bột liên kết màu trắng; Kết luận giám định số 858/KL-KTHS ngày 24 tháng 4 năm 2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận là ma túy: “… Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,45gam, loại Heroine (Heroin)...”.

- Lời khai bị cáo về việc đã thường xuyên sử dụng ma tuý nên ngày 15/4/2023 đã mua được Heroine của một người không quen biết với số tiền là 130.000 đồng đã tàng trữ sử dụng dần, đến ngày 18/4/2023 thì bị phát hiện bắt quả tang đối với số Heroine đang tàng trữ chưa sử dụng.

- Lời khai nhận tội của bị cáo về thời gian địa điểm, diễn biến của hành vi phạm tội tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không có thay đổi, bổ sung gì về lời khai làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.

Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng quy định của pháp luật.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 18/4/2023 khi bị cáo đang có hành vi tàng trữ 0,45 gam ma túy loại Heroine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi bị cáo thực hiện đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt từ “01 năm đến 05 năm tù”.

Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tại phiên toà và tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về tội Trộm cắp tài sản nhưng sau khi chấp hành án xong trở về địa phương bị cáo không lấy đó làm bài học tu chí mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới, cho thấy tính khó giáo dục, cải tạo của bị cáo.

Về tính chất của vụ án, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, gây bức xúc trong xã hội.

Vì vậy, cần có một mức án tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và khối lượng ma túy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội để đưa ra một mức án phù hợp nhất, nhằm giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và cũng đảm bảo biện pháp răn đe, phòng ngừa chung, góp phần thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phương.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản gì có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án:

Số ma túy thu giữ còn lại sau khi trừ đi mẫu gửi giám định là vật nhà nước cấm tàng trữ lưu hành, 05 mảnh nilon và 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu là những vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Về các vấn đề khác có liên quan trong vụ án:

Về người đàn ông bị cáo khai là người đã bán ma túy, bị cáo khai không biết rõ tên, địa chỉ cụ thể nên CQCSĐT không mở rộng điều tra vụ án là có căn cứ chấp nhận.

Đối với 02 bản án số 28/2005/HSST ngày 24/5/2005 và 118/2007/HSST ngày 25/10/2007 của Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La đã xét xử bị cáo về tội Trộm cắp tài sản đều thể hiện thông tin tên bị cáo là Lường Văn Xiên. Tuy nhiên qua xác minh xác định được từ khi sinh ra cho đến nay các giấy tờ nhân thân của bị cáo đều mang tên là Lường Văn S, bản thân bị cáo và gia đình chưa đi thay đổi tên lần nào. Căn cứ trên các đặc điểm nhân thân và lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn xác định được chính xác bị cáo Lường Văn Xiên trong 02 bản án số 28/2005/HSST ngày 24/5/2005 và 118/2007/HSST ngày 25/10/2007 của Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La chính là bị cáo Lường Văn S trong vụ án này.

Về án phí: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số sống tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đề nghị được miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Lường Văn S phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lường Văn S 02 năm 04 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/4/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự

Tịch thu tiêu hủy: 0,35 gam Heroine được đựng trong 01 túi nilon, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 05 mảnh nilon. Tất cả được đựng trong 01 phong bì đã dán kín, niêm phong đúng quy định, mặt sau phong bì trên giấy niêm phong có mã số 066089.

Theo Quyết định chuyển vật chứng số 94/QĐ – VKS ngày 13/7/2023 của VKSND huyện Sông Mã và theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/7/2023 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã.

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 07/8/2023).

Cỡ chữ