vanban.org

Bản án 140/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 24/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Phá A L phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Phá A L 11 (mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 29/3/2022). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phá A L - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUẬN CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 140/2022/HSST
Ngày 24 - 8 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lường Văn Duôi.

2. Ông Nguyễn Thanh Mai.

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Thuận Châu tham gia phiên toà: Ông Bạc Cầm Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân huyện Thuận Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 144/2022/TLST-HS ngày 29/7/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 157/2022/QĐXXST-HS ngày 10/8/2022 đối với bị cáo:

Phá A L, tên gọi khác: Không; sinh năm 1982 tại huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản N, xã M, huyện T, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phá A N, sinh năm 1963 và bà: Giàng Thị D, sinh năm 1962; bị cáo có vợ Lầu Thị M, sinh năm 1985 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2013; không tiền án, tiền sự; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/3/2022 đến nay, có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Vừ Thị N, sinh năm 1992; nơi cư trú: Bản N, xã M, huyện T, tỉnh Sơn La, có mặt.

* Người tham gia tố tụng khác:

- Người phiên dịch: Ông Phá A S, sinh năm 1997; nơi cư trú: Bản Xá Nhá B, xã Co Mạ, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ ngày 29/3/2022, Tổ công tác Công an huyện Thuận Châu, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực bản Pha Khuông, xã Co Mạ, huyện Thuận Châu phát hiện bắt quả tang Phá A L có hành vi cất giấu trái phép chất ma tuý, mục đích để bán kiếm lời.

Vật chứng thu giữ gồm: 01(một) gói nilon màu xanh bên trong có chứa chất bột cục màu trắng nghi là Heroine và 160 (một trăm sáu mươi) viên nén hình trụ tròn màu hồng nghi là ma túy tổng hợp (theo Phá A L khai nhận là Heroine và ma túy tổng hợp), 01 chiếc xe máy mang BKS: 26B2 – 228.57.

Hồi 19 giờ cùng ngày, Công an huyện Thuận Châu đã tiến hành cân tịnh chất bột cục màu trắng nghi là Heroine và 160 (Một trăm sáu mươi) viên nén hình trụ tròn màu hồng thu giữ của Phá A L. Cân tịnh chất bột cục màu trắng xác định được khối lượng: 8,18 gam (Tám phẩy mười tám gam), trích rút toàn bộ 8,18 gam, ký hiệu L1 gửi giám định chất và loại ma túy. Cân tịnh 160 viên nén hình trụ tròn màu hồng xác định được tổng khối lượng 15,99 gam (Mười lăm phẩy chín mươi chín gam), trích rút 05 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 0,51 gam, ký hiệu L2 gửi giám định chất và loại ma túy.

Tại Kết luận giám định số: 575/KL - PC09 ngày 01/4/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La: “Mẫu gửi giám định ký hiệu L1 là ma túy, loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là: 8,18 gam. Mẫu gửi giám định ký hiệu L2 là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là: 0,51 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là: 8,18 gam, loại Heroine và 15,99 gam loại Methamphetamine".

Áp dụng Điều 4 Nghị định số: 19/2018/NĐ - CP ngày 02/2/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự thì tổng khối lượng chất ma túy Phá A L tàng trữ trái phép nhằm mục đích bán kiếm lời là: 24,17 gam (Hai mươi bốn phẩy mười bảy gam) loại Heroine và loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra Phá A L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 29/3/2022, Phá A L một mình điều khiển chiếc xe máy mang BKS: 26B2 – 228.57, nhãn hiệu DETECH, loại ESPERO, sơn đen - xanh từ nhà ở bản N, xã M, huyện T, tỉnh Sơn La đến xã Xa Dung, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên để tìm mua ma túy về bán kiếm lời. Khi đến khu vực Bản Mường Tỉnh A, xã Xa Dung, huyện Điện Biên Đông thì L gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Mông tên Di (L khai không biết họ, tuổi, địa chỉ cụ thể) đang đứng bên đường được một lượng ma túy ( gồm Heroine và 160 viên ma túy tổng hợp) gói bằng nilon màu xanh với giá 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Sau khi mua được ma túy L cất gói ma túy vào túi áo khoác đằng trước bên trái đang mặc, rồi điều khiển xe máy đến xã Co Mạ, huyện Thuận Châu để nhằm mục đích bán kiếm lời. Khi L đến khu vực Bản Pha Khuông, xã Co Mạ, huyện Thuận Châu thì bị Tổ công tác Công an huyện Thuận Châu yêu cầu kiểm tra ma túy, quá trình kiểm tra đã phát hiện và thu giữ gói ma túy mà L đang cất giấu. Tổ công tác đã tạm giữ tang vật, dẫn giải Phá A L về Ủy ban nhân dân xã Co Mạ, huyện Thuận Châu lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang.

Do có hành vi nêu trên, tại Cáo trạng số 94/CT- VKS ngày 29 tháng 7 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu đã truy tố bị cáo Phá A L về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Phá A L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân huyện Thuận Châu đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Thuận Châu giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Phá A L phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phá A L từ 12 đến 13 năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 5,06 gam Heroine, 15,48 gam Methamphetamine; 01 túi nilon màu xanh, 01 túi nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu gửi giám định đã bóc mở, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.

Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Vừ Thị N: 01 chiếc xe máy, BKS: 26B2 - 228.57, nhãn hiệu DETECH, loại ESPERO.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Phá A L.

Tại phiên tòa, bị cáo Phá A L thừa nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại tài sản là chiếc xe máy mang BKS: 26B2 – 228.57 cho gia đình chị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người phiên dịch không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Ngày 29/3/2022 bị cáo Phá A L đã có hành vi cất giữ trái phép trong người 24,17 gam ma túy (gồm 8,18 gam Heroine và 15,99 gam Methamphetamine), mục đích để bán kiếm lời thì bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực bản Pha Khuông, xã Co Mạ, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La.

Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với kết quả điều tra, phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 14 giờ 30 phút ngày 29/3/2022; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại vật chứng; Biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định; Kết luận giám định số: 575/KLMT ngày 01/4/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La; lời khai của người chứng kiến.

Từ các căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận: Hành vi cất giữ trái phép 24,17 gam ma túy (gồm 8,18 gam Heroine và 15,99 gam Methamphetamine), mục đích để bán kiếm lời của bị cáo Phá A L phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Do đó cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm răn đe đối với bị cáo, đảm bảo biện pháp giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi áp dụng hình phạt cần xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Phá A L khai mua của 01 người đàn ông dân tộc Mông tên là Di mà L gặp ở khu vực Bản Mường Tỉnh A, xã Xa Dung, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên với giá 5.000.000 đồng vào ngày 29/3/2022. Quá trình điều tra, xác định L không biết họ, tên, tuổi và địa chỉ cụ thể của người đàn ông đó nên Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Thuận Châu không có căn cứ mở rộng điều tra.

Vật chứng vụ án:

Đối với 5,06 gam Heroine, 15,48 gam Methamphetamine còn lại sau khi lấy mẫu gửi giám định là chất ma túy, thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy cùng 01 túi nilon màu xanh, 01 túi nilon màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu gửi giám định đã bóc mở, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu là công cụ phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội và không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 chiếc xe máy, BKS: 26B2 - 228.57, nhãn hiệu DETECH, loại ESPERO là phương tiện bị can Phá A L dùng vào việc phạm tội. Xét thấy đây là tài sản hợp pháp của gia đình chị Vừ Thị N, việc bị cáo Phá A L sử dụng chiếc xe vào việc phạm tội, gia đình chị Vừ Thị N không biết, không liên quan, do đó cần trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Vừ Thị N.

Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo, là người dân tộc thiểu số sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Phá A L.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Phá A L phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phá A L 11 (mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 29/3/2022).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ Luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy:

Một phong bì niêm phong có viền màu xanh đỏ, mặt trước ghi: Vật chứng nhập kho vụ Phá A L - MBTPCMT, bắt ngày 29/3/2022. Mặt sau phong bì, dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La số: 024441 đè lên các mép dán của phong bì và trên giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký, họ tên của các thành phần tham gia niêm phong, người bị bắt và 02 hình dấu đỏ của cơ quan CSĐT Công an huyện Thuận Châu. Bên trong có: 01 túi nilon màu xanh + 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa 155 viên nén hình trụ tròn màu hồng là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng: 15,48 gam (ký hiệu L3) + 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu;

Một phong bì màu trắng niêm phong, mặt trước ghi: Vật chứng vụ: Phá Á L - MBTPCMT, xảy ra ngày 29/3/2022. Bên trong gồm có: 01 phong bì niêm phong gửi giám định đã bóc mở + chất bột màu trắng thuộc mẫu gửi giám định, ký hiệu L1, không sử dụng đến trong quá trình giám định, có khối lượng 5,06 gam là ma túy, loại Heroine. Mặt sau phong bì, dán giấy niêm phong của Công an tỉnh Sơn La số: 099017 đè lên các mép dán của phong bì, trên giấy niêm phong có 03 dòng chữ ký kèm 03 dòng họ tên và 02 hình dấu đỏ của phòng KTHS Công an tỉnh Sơn La.

Trả cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Vừ Thị N: Một chiếc xe máy, BKS: 26B2 - 228.57, nhãn hiệu DETECH, loại ESPRO, sơn màu đen - xanh, số khung: 103436, số máy: 103436, xe đã qua sử dụng cũ, xe bị hỏng nhiều chỗ, xe không có chìa khóa.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/7/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Thuận Châu và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Châu).

3. Án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Phá A L.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Bị cáo Phá A L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ