- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Đào Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 140/2022/HS-ST. Ngày: 30/11/2022. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Quang Thái.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Thịnh.
2. Ông Dương Viết Vĩnh.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tham gia phiên tòa:
Ông Lưu Nguyên Vũ - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2022, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 136/2022/TLST - HS, ngày 17 tháng 11 năm 2022, đối với bị cáo: Họ và tên: Đào Văn T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1969 tại huyện P, tỉnh Thái Nguyên; HKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm V, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 03/10; Con ông: Đào Văn B; Đã chết và bà Đào Thị C; Sinh năm: 1947; Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình; Vợ: Nguyễn Thị M, sinh năm 1970; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1989, con nhỏ sinh năm 1991; Tiền án: 01; Tại bản án HSST số 56 ngày 28/5/2013 Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Đào Văn T 09 năm tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/3/2020; Tiền sự: không. Bị cáo Đào Văn T bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/8/2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên (Có mặt).
- Người làm chứng: 1. Ông Trần Văn N, sinh năm 1957 (Vắng mặt).
Trú tại: TDP Quyết Tiến 1, thị trấn H, H. Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
2. Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1977 (Vắng mặt). Trú tại: TDP N 1, thị trấn H, Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ 50 phút ngày 26/8/2022, tổ công tác của Công an huyện P phối hợp cùng Công an thị trấn H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên trong khi làm nhiệm vụ tuần tra đảm bảo an ninh trật tự tại khu vực tổ dân phố N, thị trấn H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên thì phát hiện hai người đàn ông đang đứng trao đổi với nhau, có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy nên đã tiến hành kiểm tra thì một người bỏ chạy thoát, tổ công tác giữ lại được một người đàn ông là Đào Văn T, sinh năm 1969; Trú tại: Xóm V, xã T, huyện P. T khai nhận đang tàng trữ trái phép chất ma túy và lấy từ trong túi quần phía sau, bên trái đang mặc ra 01 vỏ bao thuốc lá Thăng long màu vàng, bên trong bao thuốc có 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng. Theo T khai nhận là ma tuý, loại Heroine của T mua về để sử dụng cho bản thân giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng (Ký hiệu A) theo quy định và đưa T, cùng vật chứng về trụ sở cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P để điều tra làm rõ.
Hồi 15 giờ 20 phút cùng ngày, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P, đã phối hợp cùng phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên tiến hành mở niêm phong bì thư ký hiệu A, cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng bên trong túi nilon màu trắng thu giữ của T có khối lượng là 0,353 gam, lấy toàn bộ niêm phong vào bì thư ký hiệu A1 gửi phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên để giám định.
Tại bản kết luận giám định số 1343/KL-KTHS ngày 04/9/2022, của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái nguyên, kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong bì thư niêm phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy loại Heroine có khối lượng là 0,353 gam.
Tại cơ quan điều tra, Đào Văn T khai nhận hành vi phạm tội như sau: T là người nghiện chất ma tuý nên thường phải đi mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 26/8/2022, T đi bộ từ nhà ra khu vực cầu Tân Đức thuộc xã T, huyện P rồi đi nhờ xe của người đi đường đến khu vực tổ dân phố N, thị trấn H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Đến nơi T xuống xe đi bộ và gặp một người đàn ông T không biết tên, tuổi, địa chỉ hỏi và mua được 01 gói ma túy loại Heroine với giá 100.000 đồng được đựng trong túi nilon màu trắng. Sau khi mua được ma túy, T cất gói ma túy vào vỏ bao thuốc lá Thăng Long mang theo rồi đút vào túi quần phía sau, bên trái đang mặc thì bị tổ công tác của Công an thị trấn H và Công an huyện P phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên. Người đàn ông bán ma túy cho T bỏ chạy thoát.
Vật chứng của vụ án gồm: 01 phong bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có chứa 0,343 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng.
Tại bản cáo trạng số 132/CT-VKSPB ngày 08 tháng 11 năm 2022, của Viện kiểm sát nhân dân huyện P đã truy tố bị cáo Đào Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015. Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P sau khi phân tích, đánh giá chứng cứ, nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo đã kết luận: Giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, và đề nghị với Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đào Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Đào Văn T từ 36 đến 42 tháng tù.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Đề nghị xử lý các vật chứng đã thu giữ theo Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, cụ thể: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có chứa 0,343 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng.
- Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước theo quy định của pháp luật.
Kết thúc phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt thấp nhất cho bị cáo để sớm trở về đoàn tụ với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên; cơ quan điều tra Công an huyện P; của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai đó có căn cứ chấp nhận vì đã đúng như nội dung cáo trạng truy tố, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và lời khai của những người tham gia tố tụng khác.
Như vậy có đủ cơ sở xác định: Hồi 11 giờ 00 phút ngày 26/8/2022 tại khu vực tổ dân phố N, thị trấn H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Đào Văn T là người nghiện chất ma túy đã có hành vi tàng trữ 0,353 gam ma túy loại Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Công an huyện P phối hợp cùng Công an thị trấn H phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Với hành vi trên, bị cáo Đào Văn T bị truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
a)…
...
c). Heroine… có khối lượng từ 0,1 đến dưới 05 gam.”
. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại đến chính sách độc quyền quyền lý của Nhà nước ta về các chất ma tuý, bị cáo nhận thức rõ về tác động của tội phạm do mình gây ra sẽ ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự của địa phương là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm hình sự khác. Hành vi đó của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần phải xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, thấy: Quá trình điều tra, và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi thực hiện tội phạm của mình. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Đào Văn T phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xét nhân thân, tính chất mức độ tội phạm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc một mức án tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử xử lý vật chứng như sau: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có chứa 0,343 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu A1; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng.
. Về nguồn gốc số ma túy: Về nguồn gốc ma túy và việc đi nhờ xe đi mua ma túy, T khai mua ma túy của một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ ở khu vực tổ dân phố N, thị trấn H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên và đi nhờ xe của một người T không biết là ai, khi bị Công an huyện P bắt giữ thì người bán ma túy cho T bỏ chạy thoát. Quá trình điều tra không đủ căn cứ để xác định người T đã mua ma túy và người T đi nhờ xe là ai nên cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để mở rộng điều tra vụ án.
. Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị cáo về tội danh, mức hình phạt, điều luật áp dụng, xử lý vật chứng là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
.Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Đào Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt chính: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 329 của Bộ Luật tố tụng hình sự.
- Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Xử phạt: Đào Văn T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/8/2022.
2. Về bắt tạm giam bị cáo sau khi tuyên án: Ra quyết định tạm giam bị cáo Đào Văn T với thời hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
4. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
5. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu A1, ngoài bì thư có ghi hoàn trả 0,343 gam ma túy và vỏ bao gói mẫu A1 còn lại sau giám định vụ Đào Văn T, sinh năm 1969; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/11/2022 giữa cơ quan cảnh sát điều tra của Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện P).
6. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Đào Văn T phải nộp 200.000đ án phí HSST sung quỹ Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo. Báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND huyện P; - Cơ quan điều tra CA huyện P; - CQTHAHS Công an huyện P; - CC T.H.A DS huyện P; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - Bị cáo; - Lưu: HS, VP, T.H.A HS. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Quang Thái |