vanban.org

Bản án 140/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Nghệ An Tuyên án 23/09/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/09/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Thị Ng, sửa bản án sơ thẩm.

Án phí: Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Trần Thị Ng không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép vật liệu nổ - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiế…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Thị Ng, sửa bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 305 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 140/2022/HS-PT
Ngày: 23 - 9 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Lam;

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quang Trung;

Ông Nguyễn Hữu Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Nga - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thị Mai Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 147/2022/TLPT-HS ngày 13/7/2022, đối với bị cáo Trần Thị Ng do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 33/2022/HS-ST ngày 25/5/2022 của Toà án nhân dân thị xã Hoàng M, tỉnh Nghệ An.

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Trần Thị Ng, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 20 tháng 5 năm 1970, tại thị xã Hoàng M, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn 13, xã Quỳnh V, thị xã Hoàng M, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo; Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị M; Có chồng Lê Công Th và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thânNgày 23 tháng 9 năm 2011 bị Tòa án nhân dân huyện Quỳnh L, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc đã chấp hành xong hình phạt chính và hình phạt bổ sung được miễn theo Quyết định số 03/2018/QĐ-TA ngày 27/9/2018 của Tòa án nhân dân thị xã Hoàng M, tỉnh Nghệ An. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 22/12/2021 đến ngày 31/12/2021 thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2020 Nguyễn Thị H nhặt được 03 túi thuốc nổ ở ven đường thuộc xóm Quang Tr, phường Quỳnh D, thị xã Hoàng M rồi mang về nhà cất dấu ở hàng rào phía sau nhà tại khối Phú Lợi 2, phường Quỳnh D, thị xã Hoàng M. Đến khoảng 15 giờ ngày 22 tháng 12 năm 2021 Nguyễn Thị H đã bán số thuốc nổ trên cho Trần Thị Ng với giá 1.200.000đ nhưng Ng chưa trả tiền cho H. Mục đích Ng mua số thuốc nổ này để bán lại kiếm lời. Sau khi mua được thuốc nổ, Trần Thị Ng vận chuyển về nhà đến trước khu vực khách sạn Mường Thanh Hoàng M, trong lúc Ng dừng xe thì bị tổ công tác Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Nghệ An bắt quả tang.

Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 23/12/2021 xác định khối lượng 30 thỏi hình trụ tròn màu nâu thu giữ của Trần Thị Ng có tổng khối lượng là 06 kg.

Kết luận giám định số 17/KL-PC09 (DD2-CN) ngày 27 tháng 12 năm 2021 của Phòng kỹ thuận hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Các mẫu vật ký hiệu (M1, M2, M3) thu giữ của Trần Thị Ng gửi giám định đều là thuốc nổ công nghiệp (Thuốc nổ Amonit AD1).

Với nội dung trên, bản án hình sự sơ thẩm số: 33/2022/HS-ST ngày 25/5/2022 của Toà án nhân dân thị xã Hoàng M, tỉnh Nghệ An, đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 305; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Thị Ng 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép vật liệu nổ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 22/12/2021 đến ngày 31/12/2021.

Căn cứ khoản 1 Điều 305; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điêu 65 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 13 (mười ba) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép vật liệu nổ”. Thời gian thử thách 26 (hai mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bản án còn giao bị cáo được hưởng án treo cho địa phương nơi cư trú phối hợp với gia đình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách, chế tài nếu vi phạm nghĩa vụ án treo và xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí, quyền kháng cáo đối với các bị cáo.

Ngày 30/5/2022 bị cáo Trần Thị Ng làm đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét xin được hưởng án treo kèm theo 02 bản sao giấy khen của Ban chấp hành Đoàn thanh niên lao động đường sắt Việt Nam, Ban chấp hành Đoàn thanh niên lao động đường sắt phía nam và 01 Huân chương kháng chiến hạng ba đều mang tên Trần Văn Đ.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Ng không xuất trình tài liệu chứng cứ gì thêm và bổ sung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Bị cáo Ng làm đơn kháng cáo và nộp cho tòa án cấp sơ thẩm trong thời hạn luật định nên được cấp phúc thẩm thụ lý và giải quyết là đúng quy định pháp luật. Từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đều tuân thủ quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt các bị cáo như bản án sơ thẩm là có căn cứ pháp luật đúng vai trò vị trí của từng người, bị cáo Ng bổ sung nội dung kháng cáo không vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu, tuy nhiên bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ mới nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng Hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm đối với bị cáo Trần Thị Ng.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận và tự bào chữa, lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Tố tụng: Ngày 25/5/2022 Tòa án nhân dân thị xã Hoàng M, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với các bị cáo và đã tuyên án cùng ngày, đến ngày 30/5/2022 bị cáo Trần Thị Ng đã làm đơn kháng cáo, hình thức, nội dung đơn hợp lệ và nộp cho Tòa cấp sơ thẩm trong thời hiệu nên Tòa án cấp phúc thẩm xem xét theo quy định tại Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo còn lại không kháng cáo, không khiếu nại về tố tụng nên Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo và bổ sung thêm xin giảm nhẹ hình phạt. Việc bổ sung nội dung kháng cáo của bị cáo tại phiên tòa không vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét.

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo:

Khoảng 15 giờ ngày 22 tháng 12 năm 2021 Nguyễn Thị H đã bán 06 kg thuốc nổ Amonit AD1 cho Trần Thị Ng với giá 1.200.000đ để Ng bán lại kiếm lời. Sau khi mua được thuốc nổ, Trần Thị Ng vận chuyển về nhà đến trước khu vực khách sạn Mường Thanh Hoàng M, trong lúc Ng dừng xe thì bị tổ công tác Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Nghệ An bắt quả tang. Số thuốc nổ nói trên Nguyễn Thị H tàng trữ từ năm 2020 rồi bán lại cho Trần Thị Ng.

Hành vi của bị cáo Trần Thị Ng bị Tòa án cấp sơ thẩm kết tội Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép vật liệu nổ, hành vi của bị cáo Nguyễn Thị H bị kết tội Tàng trữ, mua bán trái phép vật liệu nổ theo khoản 1 Điều 305 Bộ luật Hình sự và đánh giá vai trò của từng bị cáo trong vụ án, dụng pháp luật nội dung và chế tài đối với từng bị cáo như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét nội dung kháng cáo của Trần Thị Ng: Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng hình phạt đối với bị cáo là tương xứng với vị trí vai trò của bị cáo trong vụ án, bị cáo đã một lần bị kết án, tính đến ngày phạm tội lần này tuy đã đương nhiên xóa án tích nhưng việc xem xét để cho bị cáo hưởng án treo là không có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên thái độ khai báo của bị cáo là thành khẩn, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị cáo xuất trình 02 bản sao giấy khen và 01 bản sao Huân chương kháng chiến hạng ba của ông Trần Văn Đ là bố đẻ bị cáo, trong đó giấy khen của Ban chấp hành Đoàn thanh niên lao động đường sắt Việt Nam và Huân chương kháng chiến hạng ba của ông Trần Văn Đ đã được cấp sơ thẩm đánh giá và áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Tại cấp phúc thẩm Hội đồng xét xử xem xét thêm công lao của bố bị cáo trong sản xuất, chiến đấu và học tập được Ban chấp hành Đoàn thanh niên lao động đường sắt phía nam tặng giấy khen là tình tiết mới. Mặt khác khối lượng vật chứng của vụ án không lớn, hình phạt cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo có phần nghiêm khắc nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo giảm nhẹ một phần hình phạt cũng đủ sức răn đe, nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung tội phạm.

Án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận một phần nên không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Thị Ng, sửa bản án sơ thẩm.

Áp dụng khoản 1 Điều 305; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Trần Thị Ng 01 (Một) năm tù về tội: Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép vật liệu nổ, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc bị cưỡng chế chấp hành án nhưng được trừ thời hạn bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 22/12/2021 đến ngày 31/12/2021.

2. Án phí: Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Trần Thị Ng không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ