- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần văn Sơn - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Trần Văn S 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:140/2021/HS-ST Ngày 31/12/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Vân
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Ông Hoàng Văn Ngân
2. Bà Vũ Thị Hoà
Thư ký phiên tòa : Bà Hoàng Thị Kim Anh - Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo- Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 125/2021/TLST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn S; Giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh ngày 07/3/1969 tại Lào Cai; nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Lào; tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 02/10;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Công trường 5, xã C, thành phố L, tỉnh L.
Con ông Trần Văn T (đã chết); con bà: Lại Thị Nh (đã chết).
Tiền sự: Không;
Tiền án: Không
Về nhân thân: bị cáo đã có 3 tiền án đã được xoá án tích. Tại Bản án số 87 ngày 20/9/1997 bị Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai tuyên phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức dùng chất ma túy”; Tại Bản án số 78 ngày 14/9/2005 bị Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai tuyên phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Tại Bản án số 159 ngày 16/12/2008 bị Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai tuyên phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy
Bị cáo bị bắt từ ngày 25/10/2021. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Lào Cai. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 25/10/2021, tổ công tác phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Lào Cai làm nhiệm vụ tại khu vực đường Giàn Than thuộc tổ 2, phường Pom Hán, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai phát hiện và thu giữ của Trần Văn S 01 túi nilon bên trong có 05 gói giấy, bên trong mỗi gói giấy đều chứa chất bột khô, màu trắng. Trần Văn S khai đây đều là ma túy Heroine, mục đích mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định. Ngoài ra còn tạm giữ của Trần Văn S 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision mang Biển kiểm soát: 24B2-851.30 (đã qua sử dụng), 01 chứng minh nhân dân mang tên Trần Văn S; tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam 1.500.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO kèm theo thẻ sim 1 số thuê bao 0917.872.934, thẻ sim 2 số thuê bao 0378.249.177 (đã qua sử dụng).
Tại bản kết luận giám định về ma túy số 302/GĐMT ngày 27/10/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận: 0,39 (không phẩy ba mươi chín) gam chất bột khô, màu trắng gửi giám định là loại chất ma tuý Heroine (Hêrôin).
Cáo trạng số 125/KSĐT ngày 18/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo Trần Văn S phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà: Bị cáo Trần Văn S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như tóm tắt ở trên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn S đã phạm vào tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1Điều 249; điểm s khoản 1; 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm 06 tháng đến 01 (một) năm 09 tháng tù.
Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự xử lý theo quy định của pháp luật.
Tính án phí và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn S: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận tội, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, tang vật thu giữ và kết luận giám định. Do nghiện ma túy nên khoảng 12 giờ 30 ngày 25/10/2021, bị cáo vào khu vực ngã ba Bến Đá để mua của người namgiới không biết tên tuổi và địa chỉ 05 gói ma túy Heroine 0,39 (không phẩy ba mươi chín) với giá 200.000 đồng về để sử dụng. Trên đường đi tìm nơi sử dụng thì bị tổ công tác phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Lào Cai bắt quả tang và thu giữ 05 (năm) gói ma túy Heroine.
Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” Tội phạm được quy định tại điểm ckhoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Do vậy hội đồng xét xử cần phải áp dụng một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có thể giáo dục bị cáo trở thành con người sống có ích cho xã hội đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có
Về nhân thân: Bị cáo đã có 3 tiền án đã được xoá án tích. Tại Bản án số 87 ngày 20/9/1997 bị Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai tuyên phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức dùng chất ma túy”; Tại Bản án số 78 ngày 14/9/2005 bị Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai tuyên phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Tại Bản án số 159 ngày 16/12/2008 bị Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai tuyên phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, Bố,Mẹ bị cáo được nhà nước tặng thưởng huy chương kháng chiến nên cần áp dụng điểm s khoản 1; 2 điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy đinh “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...”. Tuy nhiên bị cáo không có tài sản nên Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định trong vụ án gồm: 0,27 (không phẩy hai mươi bảy) gam ma túy Heroine; Xét thấy đây thuộc danh mục các chất Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự là phù hợp.
01 chứng minh nhân dân mang tên Trần Văn S trả lại cho bị cáo;
01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO kèm theo thẻ sim 1 số thuê bao 0917.872.934, thẻ sim 2 số thuê bao 0378.249.177 (đã qua sử dụng); tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 1.500.000 đồng hiện đang tạm giữ tại tài khoản tạm giữ số 394909049863 của Công an thành phố Lào Cai tại kho bạc Nhà nước Lào Cai, không liên quan đến vụ án nhưng bị cáo còn phải chịu tiền án phí và tiền phạt theo quy định nên cần tiếp tục tạm giữ 200.000 đồng để đảm bảo cho việc thi hành án. Trả lại cho bị cáo 1.300.000 đồng (một triệu ba trăm nghìn đồng) 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO kèm theo thẻ sim 1 số thuê bao 0917.872.934, thẻ sim 2 số thuê bao 0378.249.177 (đã qua sử dụng)
Đối với người nam giới không biết tên đã bán ma túy cho bị cáo ngoài lời khai của bị cáo Trần Văn S ra không có tài liệu nào khác làm rõ nên không đề cập xử lý trong vụ án này.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision mang Biển kiểm soát: 24B2-851.30. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là tài sản riêng của chị Lương Thị Diệp (Sinh năm 1970, Nơi cư trú: tổ dân phố Na Bủ - Hàm Rồng, thị trấn Mường Khương, huyện Mường Khương, tỉnh Lào Cai). Chị Lương Thị Diệp không biết việc Trần Văn S sử dụng chiếc xe trên vào việc phạm tội. Ngày 12/11/2021 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Lào Cai đã trả lại chiếc xe trên cho chị Lương Thị Diệp, sau khi nhận lại tài sản chị Lương Thị Diệp không có ý kiến đề nghị gì. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 136 khoản 2 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1; 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Trần Văn Sphạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Trần Văn S 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt ngày 25/10/2021.
Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 0,27 (không phẩy hai bảy) gam ma túy Heroine còn lại sau trích mẫu giám định được niêm phong bằng bì thư in sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai thu trong vụ Trần Văn S có hành vi phạm tội về ma túy. Theo biên bản giao nhận của Chi cục Thi hành án ngày 19/11/2021.
Tạm giữ để đảm bảo thi hành án 200.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hiện đang tạm giữ tại tài khoản tạm giữ số 394909049863 của Công an thành phố Lào Cai tại kho bạc Nhà nước Lào Cai,
Trả lại cho bị cáo 01 chứng minh nhân dân mang tên Trần Văn S 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO kèm theo thẻ sim 1 số thuê bao 0917.872.934, thẻ sim 2 số thuê bao 0378.249.177 (đã qua sử dụng); 1.300.000 đồng (một triệu ba trăm nghìn đồng) hiện đang tạm giữ tại tài khoản tạm giữ số 394909049863 của Công an thành phố Lào Cai tại kho bạc Nhà nước Lào Cai,
Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Trần Văn S phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND TP 2; - Công an TP 3; - Sở tư pháp; - Bị cáo; - T.H.A 2; - Lưu | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thanh Vân |